Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản Trị Nhân Sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản Trị Nhân Sự. Hiển thị tất cả bài đăng

5 thg 5, 2009

Quy luật Pareto

Vào một lúc nào đấy trong cuộc sống, chúng ta sẽ biết qua quy luật 80/20. Khá đơn giản, vì quy luật này nói lên rằng với 20% nỗ lực sẽ tạo ra 80% kết quả cuối cùng. Có thể bạn đã biết đến quy luật này dưới cái tên “Quy luật Pareto” hay “Quy luật nỗ lực tối thiểu”.
Vào năm 1897, Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Italia, trong khi đang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh trong thế kỷ 19, đã phát hiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ số người trong xã hội. Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thu nhập.
Trong những phân tích và nghiên cứu tiếp theo, nhà kinh tế học huyền thoại này đã phát hiện ra rằng, nguyên tắc này không chỉ đúng trong nhiều quốc gia, giai đoạn lịch sử mà còn đúng với những gì xảy ra ngay trong khu vườn ông ta. Ở đây, ông ta thấy được, chỉ 20% cây đậu Hà Lan ông trồng đã cho ra đến 80% hạt đậu mà ông thu hoạch được.Từ khi quy luật này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát biểu tương tự như: 20% tội phạm là nguyên nhân của 80% các vụ phạm tội. 20% số người lưu thông trên được tạo ra 80% các vụ tai nạn. 20% tuyền đường chiếm 80% lưu lượng xe cộ hàng ngày. 20% những lỗi hàng hoá làm nảy sinh 80% các vấn đề rắc rối.
Thường gặp nhất là chúng ta vẫn nghe nói rằng, 20% khách hàng tạo ra 80% lợi nhuận cho một doanh nghiệp.Tôi tin rằng, các bạn thử quan sát xung quanh mình hay nhìn lại quỹ thời gian hàng ngày, hãy xem những kết quả bạn đạt được, chúng xảy ra theo quy luật 50/50 hay 80/20?.
Richard Kock, người sáng lập ra Bain&Co. và BCG Consultant, từng khẳng định rằng: “20% việc chúng ta làm tạo ra 80% kết quả, nhưng 80% công việc còn lại chỉ tạo được 20% kết quả cuối cùng mà thôi. Chúng ta đang phí phạm 80% thời gian của mình vào những việc kém hiệu quả”. Vậy lời khuyên của Koch là, thay vì cật lực theo đuổi tất cả các cơ hội sẵn có, chúng ta hãy bình tĩnh hơn, làm việc ít hơn và tập trung định hướng vào những mục tiêu có giá trị nhất dựa trên cách suy nghĩ của quy luật 80/20”.
Luật 80/20 trong cuộc sống kinh doanh
Vài tháng trước, tôi có nói chuyện một người bạn làm trong lĩnh vực in ấn quảng cáo. Anh ta đang cố gắng mở rộng hệ thống và muốn tìm kiếm những khách hàng tiềm năng mới. Rất tiếc, anh ta chỉ đủ thời gian để quản lý hệ thống những khách hàng sẵn có, nên chưa thể phát triển được. Khi tôi nói về quy luật 80/20, anh ta phát hiện ra rằng, chỉ có khoảng 20% khách hàng đem lại hầu hết lợi nhuận trong công ty. Trong khi, 80% số khách hàng hiện tại chẳng những không đem lại nhiều lợi nhuận mà đôi khi còn khiến anh ta mệt mỏi. Có thể còn nhiều yếu tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp, xây dựng chiến lược kinh doanh trong trường hợp này, nhưng điều tôi muốn nói ở đây là, quy luật 80/20 tồn tại trong nhiều trường hợp hiển nhiên, đến mức chúng ta đôi lúc chẳng nhận ra sự hiện diện chúng.
Ngày nay, mở rộng kinh doanh có lẽ là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp dường như luôn thích thú với ngọn núi bên cạnh hơn là ngọn núi mình đang đứng. Kết quả, họ mất đi sự tập trung cần thiết để duy trì và phát triển thế mạnh của mình. Trong khi lẽ ra phải tập trung hơn vào sở trường, họ lại thích dàn trải hơn và trong hầu hết các trường hợp, kết quả kinh doanh thường bi quan hơn.
Trên thị trường, có rất nhiều chủng loại sản phẩm mà ở đây, 20% thương hiệu đứng đầu chiếm đến 80% thị phần. Đó cũng chính là lý do vì sao tập đoàn GE có lúc đã bán đi tất cả thương hiệu không phải là đứng đầu hay đứng thứ hai. Trong kinh doanh nói chung và marketing nói riêng, tập trung luôn là một vấn đề cốt lõi và cần thiết để thành công. Cho dù đó là một thành công về thị phần, doanh thu hay sự phát triển dài hạn trong tương lai. Vậy ngay hôm nay, hãy xác định những sản phẩm hay khách hàng nằm trong “Top 20%” của mình và dành cho họ nhiều thời gian và nỗ lực, bạn nhé!
Nghiên cứu – học tập
Bạn thường đọc một cuốn sách như thế nào? Từ trang này sang trang khác? Như vậy, bạn đang8020rule.gif lãng phí rất nhiều thời gian của chính mình. Thông thường, 80% những thông tin có giá trị nhất gói gọn trong 20% nội dung của quyển sách và nó thường chỉ chiếm 20% thời gian so với khoảng thời gian hầu hết mọi người xem xong toàn bộ quyển sách.
Nếu bạn đọc một quyển sách hay tài liệu để giải trí, tôi khuyên bạn hãy thử đọc mục lục và phần giới thiệu đầu tiên. Sau đó, là phần kết luận trước khi sang chương đầu, xem qua các biểu đồ, hình vẽ nếu có. Quay lại phần kết luận một lần nữa và có thể xem chi tiết vài phần bạn cảm thấy thật sự thú vị. Với cách đọc như vậy, bạn sẽ nắm được nội dung chính yếu nhất của quyển sách. Tốt hơn nữa, bạn có thể ghi chú lại hoặc làm “slide” tóm tắt về nó. Việc cần và nên làm là, nhớ xem chúng ta có thể tìm được thông tin cần thiết ở đâu từ tài liệu đã xem trong thời gian ngắn nhất. Trong thế giới tràn ngập những thông tin quá tải như hiện nay, việc rèn luyện và tuân thủ theo quy luật 80/20 là cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Xã hội
Hãy ngẫm lại xem, có lẽ bạn sẽ nhận ra rằng, 20% số bạn bè của bạn đem đến cho bạn 80% niềm vui và sự hài lòng. Có vẻ hơi khó nghe nhưng tại sao bạn không dùng nhiều thời gian gặp gỡ những người bạn giúp bạn cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn những người bạn khác? Giữ cho tinh thần thoải mái cũng là một yếu tố rất quan trọng để giữ gìn sức khoẻ và đạt được thành công trong công việc. Vậy tại sao không áp dụng ngay quy luật 80/20 này vào cuộc sống để xem bạn sẽ cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn như thế nào?
Theo Richard Koch, “Quy luật 80/20, có thể giải phóng bạn. Bạn có thể làm việc ít hơn mà vẫn có thể kiếm nhiều lợi nhuận hơn, vui vẻ và nhàn nhã hơn”.
Hiện tại, người ta đã nói đến quy luật 90/10. Trên thực tế, 10% dân số thế giới đang nắm giữ 90% tài sản, trong khi 90% dân số còn lại chỉ sở hữu có 10% toàn bộ tài sản trên thế giới. Nỗ lực tối thiểu đang tạo ra kết quả to lớn hơn, đòi hỏi chúng ta cần phải tập trung cao độ hơn. Nếu bạn muốn nằm trong số 10% dân số nói trên, tôi tin rằng quy luật này rất cần thiết và hữu ích cho bạn.
Sau cùng, xin nhớ rằng, cố gắng ít hơn và kết quả cao hơn mới là những điều thật sự tốt. Hãy bắt đầu tìm kiếm và củng cố 20% của riêng mình để tiếp tục nâng hiệu quả làm việc lên gấp nhiều lần!

3 thg 5, 2009

5 điều nhà quản trị cần biết

Là một nhà quản lý, bạn phải có năng lực, dĩ nhiên, nhưng quan trọng hơn là bạn phải biết thể hiện điều đó bằng cách chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình với nhân viên.

Thể hiện là một nhà quản trị thực sự
Là một nhà quản lý, bạn phải có năng lực, dĩ nhiên, nhưng quan trọng hơn là bạn phải biết thể hiện điều đó bằng cách chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình với nhân viên. Thay vì nói suông, bạn hãy giúp đỡ nhân viên của mình khi họ gặp khó khăn trong công việc, khi họ bị stress, gặp trở ngại trong việc triển khai dự án mới,v.v…
Dành thời gian để lắng nghe và đưa ra lời khuyên tốt nhất là điều mà mọi nhân viên đều mong đợi ở ông chủ của mình.
Giao phó công việc và trách nhiệm cho nhân viên
Bạn thuê nhân viên làm gì nếu không phải là để họ chia sẻ gánh nặng với bạn? Trước khi bắt đầu một công việc hay dự án mới, hãy tự hỏi mình câu hỏi liệu có nhân viên nào đủ khả năng đảm nhận không. Nếu câu trả lời là có thì hãy giao phó trách nhiệm cho họ thay vì tự mình thực hiện. Và quan trọng là hãy tìm đúng người!
Khen thưởng kịp thời
Khi nhân viên làm tốt công việc được giao, anh ta thường được khen thưởng bằng cách tăng lương hoặc tiền thưởng.

Tuy nhiên trong thực tế, một lời cảm ơn chân thành được đánh giá cao hơn tiền bạc. Chỉ đơn giản, bạn nói “Cảm ơn”, nhân viên của bạn sẽ cảm thấy đó không đơn thuần là một lời nói mà còn là sự ghi nhận sâu sắc đóng góp của họ.

Thật đơn giản và hiệu quả!

Quan sát và nhận định
Bất cứ một công ty nào cũng có những vấn đề của riêng mình: những mâu thuẫn cá nhân, thái độ làm việc thiếu tích cực của nhân viên, sản xuất chậm chạp, không tiêu thụ được,…và nhiều những vấn đề khác nữa. Nhiệm vụ của một người quản lý là phải nắm bắt được tình hình và tìm ra cách giải quyết trước khi chúng kịp leo thang. Ngoài ra, mọi nhân viên đều rất muốn cấp trên nhận xét về hiệu quả làm việc của mình . Bạn làm thế nào cho họ biết bạn đánh giá họ ra sao nếu bạn không quan sát họ làm việc? Lời nhận xét của bạn có tác động rất lớn đối với nhân viên, họ sẽ cố gắng làm việc nhiều hơn để xứng đáng với những gì bạn mong đợi. Vì vậy, bạn nên đưa ra càng nhiều đánh giá càng tốt và biến chúng thành một hoạt động thường xuyên.
Hãy là một ông chủ tốt
Trong cuộc sống hàng ngày, bất cứ người nào cũng có thể gặp phải những vấn đề không lường trước, kể cả chính bạn. Vì vậy hãy biết thông cảm với nhân viên của mình khi họ gặp khó khăn. Hành động tối thiểu bạn có thể làm là linh động cho họ về thời gian làm việc, khối lượng công việc hoặc cho phép họ nghỉ phép nếu thấy cần thiết. Một thái độ cảm thông và những hành động thiết thực luôn được nhân viên ghi nhớ và đánh giá cao. Họ sẽ đền ơn bạn bằng cách cống hiến nhiều hơn nữa cho công ty, nghĩa là cho bạn đấy.___http://nhaquantri.blogspot.com

24 thg 4, 2009

Bí quyến để thư xin việc luôn được cập nhật

- Bạn không thể biết trước chuyện gì sẽ xảy ra, cơ hội nào sắp đến vì vậy để thư xin việc (resume) trong tình trạng luôn cập nhật thông tin sẽ là sự chuẩn bị tốt cho sự nghiệp của bạn trong tương lai.
Làm sao để cập nhật được resume mà không tốn nhiều thời gian cũng như không ảnh hưởng đến công việc hiện tại? Mời bạn thử qua 10 lời khuyên sau:
1. Giữ resume trong máy tính cá nhân của bạn. Đừng để cho các đồng nghiệp hay sếp có thể thấy resume của bạn. Dù bạn không có ý định bỏ công việc hiện tại nhưng khi nhìn thấy như vậy họ sẽ nghĩ bạn đang tìm một công việc khác, điều này có thể dẫn đến những điều không hay.
2. Bắt đầu bằng việc ghi tên công ty hiện tại của bạn ở vị trí đầu trang của resume cũ bao gồm cả ngày bạn bắt đầu vào làm và chức danh của bạn ở đây. Viết thêm vài thông tin cơ bản về công ty: số lượng nhân viên, loại hình kinh doanh, thu nhập hằng năm, phạm vi kinh doanh của công ty (công ty địa phương, quốc gia hay quốc tế).
3. Hãy viết cả những thông tin về tính chất công việc bạn đang đảm nhận, những kỹ năng quan trọng đối với công việc đó. Liên tục cập nhật khi trách nhiệm công việc của bạn thay đổi hay mở rộng hơn.
4. Liệt kê những chương trình máy tính và một số thiết bị đặc biệt bạn có thể sử dụng thành thạo.
5. Cập nhật ngay những kết quả công việc bạn vừa đạt được. Đó là kết quả gì? Bạn đã thực hiện như thế nào? Lợi ích mà nó đem lại cho công ty, nơi bạn đang làm việc như thế nào?
6. Sau khi tự đánh giá kết quả công việc đó, bạn có thể thảo luận thêm với sếp để có được những nhận xét khách quan từ bên ngoài. Ông/bà ấy có thể cho bạn biết thêm về những lợi ích mà kết quả đó đem lại cho công ty.
7. Khi bạn nhận được bất cứ giải thưởng nào, hãy ghi lại tên của giải thưởng, ngày tháng bạn được nhận và giải thưởng đó dành cho bạn vì đóng góp gì?
8. Ghi lại danh sách những khóa đào tạo bạn đã tham gia, dù là do công ty tài trợ hay bạn học ở bên ngoài. Bạn cần ghi cả tên khóa học, công ty tài trợ và ngày tháng bạn tham gia.
9. Ghi lại tên các ban trong công ty mà bạn tham gia cùng với chức danh và nhiệm vụ của bạn (nếu có). Ví dụ như bạn hoạt động trong công đoàn của công ty, nhiệm vụ của bạn là đảm bảo quyền lợi của các nhân viên nữ.
10. Ghi lại chức danh mới khi bạn được thăng chức, và tiếp tục ghi lại những công việc bạn đã thực hiện tốt trong cương vị mới này.
Khi giấc mơ thực sự của bạn bất ngờ xuất hiện, bạn đã được chuẩn bị với những thông tin chi tiết và rõ ràng.__http://nhaquantri.blogspot.com

Các điều kiện để nộp đơn xin học MBA

(Mình sưu tầm để dành cho những nhà quản trị tương lai muốn có nhiều cơ hội thăng tiến hơn)
Nộp đơn xin học MBA đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian.Các trường khác nhau trường thường đặt nặng các điều kiện khác nhau, nhưng một cách tổng quát, các trường kinh doanh thường đòi hỏi ứng viên các điều kiện sau

- Bài luận (essays)
- Kinh nghiệm làm việc
- Điểm GMAT
- Phỏng vấn
- Hoạt động xã hội
- Điểm trung bình (GPA)
- Toefl

Qua các điều kiện bắt buộc trên, ứng cử viên phải thể hiện được khả năng học tập, khả năng lãnh đạo và làm việc tập thể, cũng như tiềm năng có thể trở thành một nhà quản lí thành công.

• Bài luận

Bài luận theo tôi là yếu tố quan trọng nhất. Thông qua bài luận, các trường hi vọng có thể tìm được những ứng viên thích hợp. Thích hợp nghĩa là các trường tin rằng bạn sẽ thật sự hòa nhập với các hoạt động, bạn thực sự thích và muốn gắn bó với trường, năng động, và bạn có thể đóng góp sự đa dạng của lớp học từ những kinh nghiệm cá nhân. Do vậy, câu hỏi “tại sao bạn lại muốn học trường XYZ” luôn luôn được nêu ra trong các bài luận và phỏng vấn.


Các bài luận thường xoay vào các câu hỏi như: tại sao bại lại chọn học MBA? Bạn muốn chọn nghề nghiệp gì tương lai? Khả năng lãnh đạo, sáng tạo và giải quyết vấn đề của bạn như thế nào? Các trường càng xếp hạng cao, có nhiều ứng viên với điểm GMAT và GPA rất cao thì bài luận càng khó (điển hình như Stanford) và có độ quan trọng cao.

• Kinh nghiệm làm việc

Kinh nghiệm làm việc là yếu tố các trường sử dụng để làm đa dạng hóa lớp học MBA. Mỗi người xuất thân từ mỗi ngành nghề có kiến thức và cách tiếp cận vấn đề khác nhau, qua đó sẽ cung cấp cho những người khác một cái nhìn rộng, toàn cục và thú vị hơn. Một số trường mạnh về kĩ thuật (như MIT, Purdue) có tỉ lệ ứng viên từ ngành tự nhiên cao, Yale thích tuyển chọn các ứng viên từ các tổ chức phi lợi nhuận, trong khi Stanford lại có tiêu chí tuyển chọn sinh viên rất đa dạng. Nếu bạn có một nền kiến thức (back-ground) độc đáo, cơ hội của bạn trúng tuyển sẽ cao hơn.

Một số trường bắt buộc ứng viên có hai năm trước khi nhập học, trong khi đa số các trường top không nhấn mạnh đến thời gian. Một số trường như Wharton (University of Pennsylvenia) hay Stern (New York University) đánh giá rất cao kinh nghiệm làm việc. Độ tuổi trung bình của các sinh viên MBA là khoảng 27-28. Và lưu ý rằng, đối với kinh nghiệm làm việc thì chất lượng quan trọng hơn số lượng rất nhiều. Nếu bạn chỉ có 1-2 năm kinh nghiệm nhưng đó là những trải nghiệm thú vị hoặc là những công việc quản lí đòi hỏi trách nhiệm và năng lực thì rõ ràng sẽ hơn những người có 4-5 năm kinh nghiệm nhàm chán ở những cơ quan nhà nước.

Gần đây các trường lớn như Havard hay Stanford bắt đầu tuyển một phần nhỏ những sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học, chưa có kinh nghiệm làm việc. Nhưng đó bắt buộc phải là những sinh viên cực kì xuất sắc và có tiềm năng lãnh đạo cao từ khi còn học Đại học. Đối với sinh viên quốc tế, nếu bạn có ít kinh nghiệm làm việc thì việc nộp đơn MBA tại Mỹ sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

• Điểm GMAT

Điểm GMAT quan trọng vì nó là một tiêu chí trong bảng xếp hạng các trường kinh doanh. Hơn nữa, GMAT là một kì thi chuẩn cho tất cả mọi người, nên nó được dùng để đánh giá khả năng học tập của ứng cử viên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng điểm GMAT cao không bảo đảm là bạn sẽ được nhận (có nhiều người với điểm GMAT hoàn hảo 800 đã bị từ chối), nhưng một điểm GMAT thấp chắc chắn sẽ loại bạn ngay từ vòng tuyển chọn đầu tiên.

Một điều nữa cần nhấn mạnh về GMAT là sinh viên Việt Nam nói riêng và sinh viên Châu Á nói chung rất mạnh về kĩ năng tính toán (quantitative), nhưng thường yếu về kĩ năng ngôn ngữ (Verbal). Nên nếu bạn có điểm ngôn ngữ và viết luận cao sẽ gây dễ tạo được cảm tình của phòng tuyển sinh.

• Phỏng vấn

Đa số các trường đòi hỏi được phỏng vấn ứng cử viên như một phần bắt buộc trong quy trình nộp đơn, trong khi một số trường khác không bắt buộc nhưng nhấn mạnh rằng phỏng vấn sẽ là một cơ hội rất tốt để bộ phận tuyển sinh có điều kiện tiếp xúc và đánh giá trực tiếp ứng viên. Đối với sinh viên quốc tế, các trường sẽ đề nghị phỏng vấn bằng lực lượng cựu sinh viên tại nước đó, hoặc phỏng vấn qua điện thoại. Quy trình phỏng vấn là rất quan trọng, vì người phỏng vấn (có thể là một hoặc hai người) sẽ đánh giá bạn từ cách ăn mặc, sự tự tin, sự chuyên nghiệp trong giao tiếp, cũng như những kiến thức thực tế. Đa số những người phỏng vấn đều có các bằng cấp về quản trị nhân sự, nên các câu hỏi thường đơn giản nhưng bao quát và có thể đánh giá được ứng viên.

• Điểm trung bình (GPA) và Toefl

Điểm trung bình đại học (hoặc sau đại học) là một tiêu chí để đánh giá khả năng học vấn, nhưng thường là không quan trọng, vì rất khó để đánh giá một người có GPA 3.0 ở một trường có đòi hỏi cao như Cal-tech với một người đạt 3.8 ở một trường công của tiểu bang hay một trường tư nhỏ. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá còn khó khăn hơn nhiều. Do đó, các trường thường đề nghị bạn cung cấp bảng xếp hạng (bạn ở top bao nhiêu phần trăm trong lớp), hoặc chỉ cần bạn nằm ở một khung GPA nhất định là được (thường là từ 3.0, tương đương khoảng B hoặc 7.0 trở lên đối với thang điểm Đại học Việt Nam).

Bạn không nhất thiết phải có bằng cử nhân kinh doanh để học MBA. Chương trình MBA chấp nhận bất cứ bằng cấp đại học nào. Tuy nhiên, những năm gần đây, số người có bằng kĩ sư tin học nộp đơn xin học MBA rất nhiều và thường có điểm GMAT cao, nên nếu bạn học tin học, có thể bạn sẽ hơi khó khăn hơn một chút khi nộp đơn học MBA.

Dĩ nhiên, nếu bạn là Sinh viên quốc tế từ một nước không sử dụng Tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất thì bạn phải thi Toefl. Nhưng Toefl hoàn toàn không đóng vai trò quan trọng trong việc tuyển chọn. Chỉ cần bạn đạt được đủ điểm cần thiết (thường là 600 đối với kì thi trên giấy, 250 đối với trên máy tính hoặc 100 đối với kì thi iBT)

• Hoạt động xã hội

Hoạt động xã hội và các hoạt động từ thiện được các trường đánh giá như là sự quan tâm và đóng góp cho xã hội của ứng viên, cũng như tiềm năng lãnh đạo của ứng viên từ khi còn học Đại học. Điều kiện này đặc biệt quan trọng khi bạn là sinh viên mới ra trường hoặc có ít kinh nghiệm làm việc. Havard, Stanford thường nhấn mạnh đến tiêu chí này.

(xem tiếp phần 2: Quy trình nộp đơn MBA ở Mỹ)
• del.icio.us

• digg

• Facebook

• ma.gnolia

• reddit

• Slashdot
Kết thúc HK IDevice Manager - Snap In Creation Failed
Comments

Quy trình nộp đơn MBA cho các trường ở Mỹ

• Quy trình và một số kinh nghiệm khi nộp đơn

Hạn nộp đơn của các trường thường có 3 đến 4 vòng (round), kéo dài bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Kết quả sẽ được thông báo cho bạn chậm nhất vào cuối mỗi vòng và sẽ sớm hơn nhiều nếu hồ sơ bạn rất mạnh (được nhận ngay) hoặc rất yếu (bị loại ngay). Kinh nghiệm cho thấy bạn nộp đơn càng sớm, khả năng được nhận (và được học bổng) càng cao. Đối với sinh viên quốc tế, vòng 2 thường là vòng cuối cùng để bạn nộp đơn. Vòng 3 trở đi thường cạnh tranh rất gay gắt do số chỉ tiêu tuyển sinh còn lại không nhiều, và bạn bị so sánh với tất cả ứng cử viên đã được nhận, cũng như phải cạnh tranh với số ứng viên trong hàng đợi.


Một số trường như Columbia hay Texas at Austin sử dụng “rolling admission”, nghĩa là bạn nộp đơn bất cứ khi nào trong hạn nộp đơn thì sẽ được biết ngay sau khi có kết quả chứ không đợi đến hết một vòng. Kết quả thường có sau khoảng từ 8 đến 12 tuần.

Các trường thường bắt buộc bạn nộp hồ sơ online thông qua internet và cũng đề nghị người giới thiệu bạn viết thư giới thiệu online. Lệ phí nộp đơn rất khác nhau giữa các trường, dao động từ 50 USD (các trường công như Purdue) cho đến hơn 200 USD (Stanford).

Tùy theo độ mạnh của hồ sơ của bạn, kết quả có thể là được nhận kèm học bổng, được nhận, xếp vào hàng chờ (waitlist) hoặc bị từ chối. Nếu bạn được xếp vào hàng chờ nghĩa là hồ sơ của bạn tương đối yếu hơn so với những người được nhận ở vòng đó, nhưng các trường vẫn muốn giữ hồ sơ của bạn lại để so sánh bạn với các ứng cử viên của vòng sau.

Các ứng cử viên từ Ấn Độ thường có điểm GMAT và GPA rất cao cũng như kinh nghiệm làm việc phong phú, nên nếu chỉ căn cứ vào các con số để tuyển chọn, có lẽ các trường kinh doanh sẽ tràn ngập các sinh viên Ấn Độ. Vì vậy, có một luật bất thành văn là các trường quy định một tỉ lệ nhất định cho các SV đến từ các vùng miền khác nhau (mặc dù các trường ít khi nào thừa nhận điều này). Sinh viên Việt Nam có một lợi thế là ít người Việt Nam học tại các trường kinh doanh, nên có nhiều trường sẽ chấp nhận bạn để tạo thêm sự đa dạng, nhưng cũng có một bất lợi là sẽ dễ dàng bị so sánh với nhánh “ứng viên châu Á”, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ. Do đó, một ứng viên Nam từ châu Á và học IT sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi nộp đơn học MBA) (cũng vì lí do đa dạng này mà các nữ ứng viên thường có lợi thế khi nộp đơn so với nam vì các trường kinh doanh thường có ít sinh viên nữ).

Trong hồ sơ của mình, bạn cần nhấn mạnh đến sự độc đáo cá nhân của mình, cũng như có thể mang sự độc đáo đó đóng góp vào sự đa dạng và phát triển của trường. Có thể bạn đến từ một nền kinh tế đang nổi, bạn có kinh nghiệm làm việc từ những ngành nghề lạ, hoặc có thể nói được vài ngôn ngữ khác nhau v.v… Trước khi nộp đơn, bạn cần tự đánh giá các điểm mạnh yếu của mình, chọn ra một hoặc hai điểm mạnh để phát triển một cách xuyên suốt và nhất quán trong suốt quá trình nộp đơn. Tin tôi đi, khi bạn hoàn thành bản tự đánh giá, bạn sẽ phát hiện ra mình thú vị và có nhiều điểm độc đáo hơn mình tưởng.

• Chọn trường

Tùy vào chuyên ngành bạn thích, bạn có thể căn cứ (một cách tương đối) trên các bảng xếp hạng chuyên ngành để chọn trường (các công ty ở mỗi chuyên ngành thường ưu tiên chọn các trường mạnh về chuyên ngành đó, nên bạn có thể tận dụng được ưu thế đó). Nếu bạn thích tài chính, Wharton, Columbia University , University of Chicago, University of New York hay University of Rochester có thể là điểm đến của bạn. Trường Kellogg của Northwestern University luôn luôn là số 1 thế giới về tiếp thị, theo sau là các trường Duke, Michigan hay Dartmouth. Nếu bạn có sở trường về kĩ năng định lượng hoặc muốn phát triển trong những ngành hệ thống thông tin, quản lí công nghệ, MIT, Carnegie Melon, Texas Austin hay Purdue là những cái tên bạn khó thể bỏ qua. Có nhiều trường nhấn mạnh đến các tiêu chí nhỏ khác, như Yale hấp dẫn đối với những người làm cho các tổ chức phi lợi nhuận, Emory có rất nhiều hoạt động giúp bạn rèn luyện kĩ năng lãnh đạo (leadership) và được xem là hàng đầu về lĩnh vực đó. Nhiều trường mạnh đều ở các lĩnh vực, như Havard hay Stanford, thường được xem như những trường quản trị tổng quát (general managemt) nên dù không xếp đầu ở mỗi chuyên ngành nhưng vẫn là những trường hàng đầu thế giới. Ngược lại, có những trường được xếp rất cao trong một chuyên ngành nhất định như Badson College (thường được xếp nhất về Entrepreneur) hay Thunderbird (rất mạnh trong chuyên ngành kinh doanh quốc tế) nhưng lại không được đánh giá cao bằng (chỉ ở top 50 hoặc 70).

Vị trí địa lí cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc chọn trường. Ở các thành phố lớn, mức sinh hoạt cao hơn hẳn, nhưng bù lại bạn có nhiều cơ hội trong việc mở rộng các quan hệ, thực tập và việc làm (như New York, Boston, Chicago là trung tâm tài chính lớn, nên các trường ở ở vùng đó rất mạnh về tài chính). Vì lí do này, đa số các trường kinh doanh nổi tiếng thường nằm ở những thành phố lớn. Ngược lại, các trường ở những thành phố nhỏ có mức sống rẻ và yên bình có thể giúp bạn tập trung vào việc học. Theo ý kiến của tôi, bạn nên chọn các trường ở những thành phố lớn. Nếu không, cần chọn những trường nổi tiếng như Cornell, Darmouth hay Notre Dame ở thành phố nhỏ để tìm việc làm và cơ hội thực tập cũng tương đối dễ dàng hơn.

Một số trường như trường kinh doanh đại học Havard, Đại học Virginia chỉ sử dụng phương pháp “Case Study”, đem những ví dụ thực tế để phân tích, từ đó rút ra những bài học cụ thể. Ở những trường khác, thường áp dụng một tỉ lệ nhất định giữa Case Study, bài giảng (lectures) và các đồ án thực tế (project based). Vì vậy, bạn có thể chọn lựa trường dựa trên phương pháp giảng dạy mà bạn thích hợp nhất.

Các bảng xếp hạng là một chỉ tiêu để các bạn tham khảo. Vì mỗi bảng xếp hạng có những tiêu chí khác nhau nên vị trí của các trường cũng hơi thay đổi trong mỗi bảng xếp hạng. Có khoảng 30 trường thường xuất hiện đầu ở bất bảng xếp hạng nào, và chất lượng của những trường top 30 này tương đối vượt trội hơn so với các trường khác. Cũng cần lưu ý trong các trường top này, có những trường rất đông sinh viên như Havard gần 2000, Wharton khoảng 1800, nhưng cũng có trường có số sinh viên nhỏ hơn rất nhiều Yale khoảng 300, Emory khoảng 150 cho mỗi khóa học.

Các trường như Havard, Stanford hay Wharton nổi tiếng trên toàn thế giới và việc xin học cực kì khó khăn, nên muốn được nhận bạn phải có hồ sơ cực mạnh. Việc nộp hồ sơ vào các trường trong top 30 đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, nên bạn cần tính toán thật kĩ chiến lược của mình. Thông thường, bạn nên chọn khoảng 2 trường dự phòng mà bạn nắm nhiều khả năng được nhận, 2-3 mà bạn “có thể” được nhận, và khoảng 1-2 trường top để thử sức. Tuy nhiên cần chú trọng đến chất lượng của mỗi hồ sơ hơn là chạy theo số lượng, để đảm bảo mỗi hồ sơ bạn gửi đi đều được hoàn hảo nhất có thể.

Học bổng MBA thường được dành cho những ứng viên mạnh. Một cách tổng quát, các trường tư (private), đặc biệt là các trường “giàu”, thường cho học bổng rộng rãi và chấp nhận nhiều sinh viên quốc tế hơn các trường công (public). Điều thú vị là các trường không thuộc top 10 sẽ có xu hướng cấp học bổng nhiều hơn để thu hút sinh viên giỏi. Do đó, nếu học bổng là một nhân tố quan trọng khi bạn học MBA, hãy chú ý đến những trường này. Nếu bạn được chấp nhận vào học tại những trường nổi tiếng, bạn sẽ được bảo đảm khả năng mượn tiền để học (student loan) với lãi suất thấp và sẽ trả dần sau khi bạn đi làm.

Một cách xếp hạng rất hay là chia các trường ra theo từng nhóm (cluster) của diễn đàn GMATClub.com. Các trường ở top 30 có thể được chia thành nhóm như sau (Theo tên, không xếp hạng trong từng nhóm)

- Ultra Elite: Gồm những trường kinh doanh hàng đầu thế giới và cũng thường đứng đầu trong những lĩnh vực quan trọng như Tài chính, tiếp thị hoặc quản trị: Havard, Stanford, Wharton, Northwestern, MIT, Columbia, Chicago.

- Elite: Gồm những trường kế tiếp, nổi tiếng thế giới và khắt khe trong việc tuyển sinh: Darmouth, Duke, Michigan, UC Berkeley, UCLA, University of Virginia và New York University.

- Trans-elite: gồm những trường top, có danh tiếng trên khắp nước Mỹ, có sĩ số nhỏ, thường đứng đầu ở những lĩnh vực nhất định và có nhiều có thể sánh ngang với nhóm Elite trong nhiều mặt: Carnegie Melon, Emory, University of Texas at Austin, University of Southern California, và University of North Carolina.

- Near Elite: là những trường kinh doanh nằm trong các đại học lớn và nổi tiếng, có ưu thế trong từng lĩnh vực riêng: Rochester, Notre Dame, Georgetown, Purdue, Washington University at St.Louis, Vanderbilt, Marryland và Iniana University.

• GMAT và TOEFL

GMAT và TOEFL thường là rào cản của các bạn sinh viên Việt Nam khi muốn học MBA.Có nhiều bạn hỏi “có trường nào không cần GMAT?”, “trường nào không cần TOEFL?”.

Câu trả lời là có, có hết. Với hơn ba ngàn đại học ở Mỹ, thượng vàng hạ cám gì cũng có. Tuy nhiên, các trường không cần GMAT (hoặc chỉ cần một điểm rất thấp), không cần Toefl thường là những trường không được kiểm định, chất lượng rất thấp. Và cũng chẳng có nhà tuyển dụng nào quan tâm đến bằng MBA từ những trường như vậy. Nên bạn đừng đặt mục đích chỉ là được đi du học, có tấm bằng MBA để có thêm một dòng ghi trong hồ sơ, vì bạn sẽ tốn thời gian hai năm và tiền bạc một cách vô ích. Bạn cần suy nghĩ thật kĩ : "Tại sao bạn lại muốn học MBA? Bạn muốn làm gì trong tương lai". Nếu đã xác định được MBA là cần thiết để đạt được mục tiêu thì hãy thi GMAT và nhắm đến những trường top để xứng đáng công công sức bỏ ra. Đừng cố đi tắt bằng cách kiếm những trường không đòi GMAT, TOEFL.

Ở những trường nổi tiếng, bạn được học từ những giảng viên là những nhà khoa học hàng đầu, được học cùng những người bạn thú vị có thể chia xẻ với bạn kinh nghiệm cá nhân và thảo luận những vấn đề trong lớp từ nhiều khía cạnh khác nhau, được thực hiện các đồ án gắn liền với các công ty lớn, và các hoạt động hỗ trợ giúp bạn nâng cao kĩ năng. Bạn sẽ có điều kiện sử dụng các tiện ích như cơ sở vật chất hiện đại, phòng việc làm (career center), mạng lưới cựu sinh viên (alumni) , mở rộng những mối quan hệ rất có ích cho bạn trong tương lai, cũng như rất nhiều tiện ích khác nữa mà bạn khó có thể tìm thấy ở những trường nhỏ.___http://nhaquantri.blogspot.com

22 thg 4, 2009

Chuẩn bị đàm phán như thế nào?

- Trong quá trình đàm phán, cần có khả năng đoán ý qua lời nói và sắc mặt của đối phương cũng như hành vi, nhất cử nhất động, nắm bắt tâm lý của họ, để từ đó đưa ra những hình thức đàm phán tốt nhất, đồng thời áp dụng các sách lược ứng phó với đối tác đàm phán. Việc đoán ý qua lời nói và sắc mặt chính là những phòng bị của người đàm phán.

Một thương gia người Mỹ gốc Hoa tên là Thi Lộ Hoa có khả năng đoán ý của người khác qua lời nói và sắc mặt, vì thế mà ông đã giành được rất nhiều thành công trong sự nghiệp kinh doanh. Một lần, trong một bữa tiệc, Thi Lộ Hoa đã gặp mặt thương gia buôn bán gỗ Richard tới từ Pennsylvania. Richard là người luôn có cảm giác tự ti, điều này khiến ông ta luôn nhìn người khác với ánh mắt nghi ngờ. Tuy nhiên vợ của Richard là một phụ nữ rất năng động, tháo vát, những kinh nghiệm giao tiếp xã hội cũng rất giỏi, vì thế đã giúp cho Richard giành được không ít thành công trong kinh doanh, và tài sản của họ tích luỹ được ngày càng nhiều. Bạn của Richard luôn chúc mừng anh khi cưới được một người vợ tuyệt vời. Nhưng nghe những lời khen này, Richard lại cảm thấy không vui lắm.khi Thi Lộ Hoa muốn cùng Richard kí kết hợp đồng hợp tác đại lý dài hạn, thì số hàng gỗ của Richard được vận chuyển tới Pennsylvania, đúng lúc này thì mọi người đang khen tài kinh doanh của vợ Richard. Thi Lộ Hoa ngẫm nghĩ một lúc rồi cười nói với Richard: “ Ông Richard, ông đến thật đúng lúc, chúng tôi đang nói chuyện về ông đây! ” Richard dưới ánh nhìn nghi ngờ, nghe Thi Lộ Hoa nói: “ Chúng tôi đang tranh luận một vấn đề. Có người nói, tất cả sự nghiệp kinh doanh của ông đều do vợ ông làm được mà có, nếu tự bản thân ông thì ông không làm được! ” Nói tới đây, Thi Lộ Hoa cố ý ngừng lại để xem phản ứng của Richard như thế nào. Sau đó lại tiếp tục nói: “ Tôi thì tôi không đồng tình với cách nói này, tôi nghĩ rằng ông Richard là một thương gia năng động, chuyện gì cũng có thể làm được, tuy nhiên vì tôn trọng quyền phụ nữ nên một số việc nhẹ nhàng để vợ gánh vác, còn mình sẽ giải quyết những việc to lớn hơn, ông thấy tôi nói vậy có đúng không? ” . “ ...., ông nói rất đúng ”. Bất chợt, Richard cười. Ông kéo Thi Lộ Hoa lại gần, và xem Thi Lộ Hoa như một người bạn tốt. Ngày thứ hai, họ đã cùng nhau thống nhất kí kết một hợp đồng hợp tác kinh doanh gỗ dài hạn.
Trong cuộc đàm phán, để có cách nhìn nhận nhạy bén đoán ý người khác qua cử chỉ và lời nói thì cần nắm rõ những ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể sau đây:
1, Trong vòng một giây mà chớp mắt liên tục thì đây là biểu hiện tinh thần thoải mái, có hứng thú với mọi sự vật, sự việc, có khi lại được hiểu là cảm giác khó chịu, sợ sệt, không dám nhìn thẳng đối phương; mở to mắt nhìn biểu thị sự thích thú.
2, Mắt nhấp nháy liên tục, đây là cử động bình thường, thường được hiểu như che giấu một hành động nào đó hay tính cách không thành thật.
3, Con ngươi mắt biến đổi chứng tỏ rất có ý chí để khống chế mọi việc. Khi con người ở vào trạng thái khẳng định, vui mừng, thích thú thì con ngươi mắt mở to, ánh mắt có thần; khi ở trong trạng thái phủ định, đau khổ, căm ghét thì con ngươi mắt nhỏ lại, ánh mắt không được sáng. Thời cổ ngày xưa, thương gia Chu Ngọc rất quan tâm tới vấn đề này, ông có thể nhìn vào con ngươi mắt của khách mà biết được rằng đối phương có thích hàng hoá hay không, để từ đó định mức giá cả cao thấp. Vì vậy mà có một số người thường đeo một chiếc kính đổi màu để che đi những khuyết điểm của mình.
4, Khoanh hai tay trước ngực, hai chân vắt chéo, biểu thị không muốn nói chuyện với người khác; hơi ngẩng đầu, tay đặt trên ghế hay trên bàn, hai chân để ra trước, hai mắt nhìn đối phương điều này biểu thị cảm giác thích thú được trò chuyện.
5, Lưng thẳng, đằng trước và sau luôn ở trạng thái thẳng, điều này có nghĩa là cảm xúc của người này rất dồi dào, tự tin, năng lực mạnh mẽ. Ngược lại, hai vai trùng xuống, biểu hiện cảm xúc mệt mỏi, thất vọng, bị động, tiêu cực.
6, Khi hút thuốc, thổi khói lên trên là biểu hiện sự tích cực, tự tin, đầu ngẩng cao. Khi khói thuốc bay xuống dưới, đó là biểu hiện của thái độ tiêu cực, kém ý chí, có sự hoài nghi lo lắng.
7, Hút thuốc không ngừng là biểu hiện nội tâm mâu thuẫn, phức tạp hay nôn nóng bất an. Điều này chính là những biểu hiện không có ý chí hay tâm lí bất an.
8, Để thuốc cháy nhưng rất ít hút, là biểu hiện cảm xúc hay suy nghĩ căng thẳng.
9, Chưa hút hết thuốc đã vứt bỏ là biểu hiện muốn kết thúc cuộc nói chuyện hoặc hạ quyết tâm.
Khi phân tích và phán đoán ngôn ngữ cơ thể, nhất thiết phải xem xét vô cùng tỉ mỉ, do ý nghĩa biểu đạt ngôn ngữ cơ thể so với tính cách cũng như bối cảnh văn hoá của con người là không giống nhau, nên nhất thiết phải căn cứ vào một số người nào đó trong những trường hợp đặc biệt mới lĩnh hội được ý nghĩa sâu xa của nó. Trong đàm phán, đối phương có khi lợi dụng một vài động tác hay thái độ, hành vi nhằm mê hoặc bạn, nhưng nếu quan sát xâu chuỗi những hành động đó ngay từ đầu hay theo dõi những hành động trước sau của anh ta cùng những mặt liên quan đến nội dung lời nói, ngữ âm, ngữ khí và ngữ điệu từ đó có thể tìm ra những sơ hở, vạch ra chân tướng sự việc. Người đàm phán nắm bắt tốt những ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể, sẽ có tác dụng rất lớn trong việc tìm ra chính xác ngọn ngành phán đoán.
Mặt khác trong việc tiến hành cuộc đàm phán cần chú ý tới việc ứng biến nhanh, tốt, điều này sẽ mang lại khả năng phòng bị cho người phán đoán. Trong quá trình đàm phán, đôi bên sẽ đưa ra những lời lẽ sắc bén để bảo đảm lợi ích cho mình, tiếp đó là những biến hoá thay đổi của hai bên đối tác, hình thức đàm phán nhờ đó mà trở nên phong phú, mở rộng hơn. Lúc này người đàm phán nên áp dụng những ứng biến linh hoạt, sử dụng những phương án khả thi và tính toán lại quyết sách của mình. Ngược lại, tư tưởng bảo thủ cùng với những lề thói cũ chỉ làm cho cuộc đàm phán thất bại và rơi vào bế tắc.
Thông thường, một cuộc đàm phán thành công luôn phải được tiến hành ba lần. Lần đầu, hai bên thám thính tình hình đối phương, ví dụ như thám thính những chính sách kinh doanh chủ yếu của công ty đối tác có thể hay không thể mang lại cơ hội hợp tác v.v. Lần thứ hai, đàm phán dựa trên cơ sở những tình hình đã nắm bắt được, sau đó đề ra mong muốn cùng hợp tác và yêu cầu hợp tác. Vì thế mà người đàm phán cần chủ động nắm bắt tình hình và tư liệu của đối tác ngay từ trước, đồng thời cần xác định được hiệu quả của cuộc đàm phán nằm ở chỗ nào.
Việc ứng biến linh hoạt nhằm mục đích khống chế được tình hình cục diện tốt hơn, để làm tốt điều đó thì người đàm phán phải hiểu rõ đặc điểm mấu chốt. Nắm chắc vấn đề trọng tâm trong cuộc đàm phán. Điều này không hoàn toàn để lộ bản thân bạn cũng như mục đích chính, vì thế gọi là sách lược “ nói thế này nhưng nghĩ thế kia ” hay “ dương đông kích tây ” “ mờ ám tránh sự thật ”, áp dụng biện pháp này để tránh việc đối phương nắm trúng tim đen khiến bạn mất đi quyền làm chủ của mình.
Ví dụ như, trong cuộc đàm phán giữa một công ty gang thép Hàng Châu và công ty gang thép của Mỹ, về phía công ty của Mỹ đã đưa ra yêu cầu giá cả quá cứng nhắc. Đại diện công ty Mỹ cho biết, nếu như công ty Trung Quốc không cung cấp thiết bị thì sẽ gặp thất bại trên thị trường; Về phía Trung Quốc, đại diện công ty cho rằng, nếu cuộc đàm phán giữa hai bên thất bại thì xảy ra tổn thất là điều đương nhiên, nhưng sau đó còn rất nhiều cơ hội. Về phí công ty Mỹ sau ba lần cân nhắc, đặc biệt quan tâm tới việc đàm phán giữa hai bên gặp thất bại, điều này rất có thể sẽ mất đi cả một thị trường Trung Quốc rộng lớn, vì thế mà không thể không nhượng bộ. Trong cuộc đàm phán này, Trung Quốc trên thực tế đã che giấu những yêu cầu cấp bách của mình, trên cơ sở nắm bắt tốt nhu cầu của đối phương mà giành được thành công.
Khống chế được cục diện là vấn đề chủ yếu nhất cần nắm bắt, không thể bỏ qua một tình tiết nhỏ nào, Khi đối phương công kích gây hấn hay có thái độ đối đầu gay gắt thì bạn nên cách ứng phó sắc xảo, vận dụng nhiều kĩ ảo đàm phán để nắm chắc và khống chế được cục diện.
Đàm phán thương vụ chính là sự giao chiến tương đối phức tạp về mặt ngôn ngữ giữa hai bên đàm phán Trong quá trình đàm phán tâm lí hai bên đã trải qua nhiều thử thách và cam go. Nếu như người đàm phán không có khả năng có được tâm lí vững vàng thì rất khó có thể giành được thành công trong cuộc đàm phán. Tố chất tâm lí tốt cũng là một trong những năng lực chuẩn bị tốt.
Trong đàm phán, để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình mà hai bên đàm phán đã nảy sinh mâu thuẫn xung đột, đối phương có thể nôn nóng hấp tấp hay có ý làm khó dễ thì rất có thể chuyển hướng thay vì đàm phán về việc thì chuyển sang người. Với những hành vi thô bạo hay có ý xấu nếu như chúng ta châm biếm lại thì rất dễ gây ra cãi vã, ảnh hưởng đến hoà khí, lại làm hỏng tiến trình đàm phán. Tốt nhất lúc này chúng ta nên kìm chế cảm xúc, giữ thái độ bình tĩnh, tránh xảy ra xung đột nghiêm trọng. Phương án tốt nhất là bình tĩnh lắng nghe ý kiến đối phương, biết nhìn nhận những lỗi sai của mình, sau đó đưa ra ý kiến tiến hành lại cuộc đàm phán, cũng như chuyển hướng đưa ra những ý kiến khác nhau với đối phương, hay sau khi bất đồng phát sinh thì biết dừng lại, sau khi điều chỉnh lại trạng thái tâm lí thì tiếp tục tiến hành thảo luận. Bình tĩnh xử lý tốt vấn đề đó cũng là biểu hiện một trạng thái tâm lí tốt, vững vàng.
Làm người luôn mang trong mình tố chất tâm lí bền vững, ý chí quật cường và một tinh thần thép. Là một người đàm phán cũng cần mang trong mình phẩm chất cũng như sự quyết tâm vững chắc. Giống như câu nói của Miroslav Klose thuộc công ty MSI ( McClellan Summation Index ): “ trên thế giới này không gì có thể thay thế được “ kiên định ”; “ tài năng ” cũng không thể thay thế, vì một người có tài nhưng cũng chưa đạt được thành công; “ thiên tài ” cũng không thể vì thiên tài ngày càng bị mai một; “ giáo dục ” cũng không thể, vì đa số là những đồ phế thải đã nhận được sự giáo dục; chỉ có “ sự kiên định ” và “ quyết tâm ” mới là vô cớ ”.
Ngoài ra, một người đàm phán khi phải ứng phó với nhiều cục diện khác nhau, đòi hỏi cần phải có sự quyết tâm. Trong thời gian đàm phán, nếu như trước đó bạn lo buồn thái quá hay có tâm lí áp lực nặng nề thì sẽ làm tâm trí rối bời, không tập trung được. Trong khi đàm phán, đối với mỗi người đàm phán mà nói thì trước tiên nên để đầu óc thư thái, tinh thần được tập trung cao độ, vì vậy mà trong lúc đàm phán không nên lo lắng quá nhiều, nên có tâm lí đàm phán “ thắng bại là chuyện thường tình ”, đồng thời kết quả đàm phán cũng không nhất định lúc nào cũng thất bại. Nếu như trong bạn luôn tồn tại tâm lí trở ngại, trong khi đàm phán luôn có cảm giác quá tự ti, khi nói không rành mạch, đầu xuôi đuôi lọt, thì có thể khẳng định bạn sẽ thất bại trước đối thủ. Đối với tình hình này, người đàm phán nên tiến hành rèn luyện trong thực tiễn, luôn giữ thái độ tình cảm lạc quan, tích cực tham gia các hoạt động xã hội tập thể, để giành được thành công trong khi đàm phán.
Đàm phán chính là quá trình hiệp thương giữa hai bên, yêu cầu người đàm phán phảI trang bị những năng lực đàm phán thông thạo, so với thực tế thì đó cũng là năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp yêu cầu người đàm phán phải có khả năng diễn đạt ngôn ngữ tốt. Đàm phán không giống như diễn thuyết, nên không yêu cầu mỗi người đàm phán có khả năng điều chỉnh ngôn ngữ thông thạo, nhưng phải biểu đạt rõ ràng các vấn đề và hướng ý. Nếu không, đối thoại không rành rọt sẽ cản trở quá trình đàm phán.
Cần thực hiện tốt việc lưu thông, cần biết tranh luận để hiểu hơn về đối phương. Bình tĩnh lắng nghe tình hình của đối phương, ví dụ như sở thích của đối phương hay những cách nhìn nhận của họ đối với sự vật sự việc. Cũng thông qua ngôn ngữ trò chuyện để tìm hiểu kĩ hơn. Đồng thời, cũng tạo điều kiện để đối phương hiểu bạn, tìm hiểu những suy nghĩ, hành động, hay cách nhìn nhận của bạn về sự vật, cũng như thái độ lập trường của bạn đối với cuộc đàm phán, điều này sẽ trợ giúp đối phương rất nhiều và cũng giúp cho cuộc đàm phán giành được thành công.
Cần tìm hiểu đối phương, áp dụng các phương pháp giao tiếp phù hợp, ví dụ như mời khách hay “ đối thủ ” dùng tiệc, đánh tennis hay chơi Bowling. Điều này sẽ giúp cho tư tưởng được thông suốt, giúp tinh thần đối phương không bị căng thẳng. Thông qua những phương pháp tìm hiểu đối phương để từ đó nắm chắc trong tay thế chủ động.

21 thg 4, 2009

Những điều thú vị về Bill Gates_thần tượng của tôi

Thông thường các Chủ tịch và Tổng giám đốc điều hành của những Công ty hùng mạnh nhất ở Hoa Kỳ lại là những người ít được công chúng biết đến, ngoại trừ vài cái tên như Henry, Ford, Rockerfeller… Bill Gates là một trường hợp đặc biệt. Có lẽ ông là vị Chủ tịch Công ty nổi tiếng nhất nhưng lại không có tính cách hoa mỹ thường gặp ở những nhân vật khác, mặc dù một bài diễn văn của ông, hay mỗi lời nói ra khiến toàn thế giới CNTT phải nghiên cứu từng chữ và chăm chú theo dõi.

1) Bill Gates ăn nói lưu loát, nhưng giọng ông hơi cao. Ông có óc hài hước và một nụ cười đầy duyên dáng tuy hơi trẻ con mà ông hay dùng trong khi phỏng vấn. Bất kể đó là một cuộc phỏng vấn của giới báo chí hay truyền hình, Gates đều biểu lộ khả năng giải thích một ý tưởng phức tạp một cách đơn giản và rõ ràng, bằng cách tận dụng những giai thoại và liên hệ với thực tế mà ai cũng biết để khai phá ý nghĩa.

Bill Cates là một người thích kháo chuyện, lúc nào ông cũng sẵn sàng nói về thời trai trẻ của mình ở trường Trung học Lakeside và ĐH Harvard, nhấn mạnh đến việc mình và Paul Allen khám phá ra thế giới máy tính. Ông thường xen vào việc mình đã tham gia vào các vở kịch của Peter Shaffer ở Lakeside hay việc chơi bài poker thâu đêm suốt sáng ở KTX Đại học Harvard.

Rồi chuyện sống một thời gian dài chủ yếu là bằng nước ngọt Coca Cola, bánh pizza và ngủ dưới gầm bàn. Như thế, một số người lại thấy rằng tính cách của Gates dễ thương hơn so với những nhân vật nổi tiếng khác cứ giả vờ như thể mình chưa bao giờ qua tuổi dậy thì.

3) Người ta thường nói về tính luộm thuộm cố hữu của Gates, liên quan đến cặp kính lúc nào cũng hoen mờ, về cách ăn mặc cẩu thả và rằng Gates không thích tắm. Con người của Gates rõ ràng không phải là mẫu người thích chưng diện. Nhưng những năm gần đây hình như ông tỏ ra chăm chút đến hình thức của mình nhiễu hơn khi xuất hiện trước công chúng. Báo chí cũng đặc biệt chú ý đến thói quen ngồi lắc lư nửa thân trên lúc đang suy nghĩ hoặc liên tục nhịp chân của Gates. Người ta thấy rằng bố ông cũng có thói quen như vậy.

4) Gates đã bàn chuyện hôn nhân với người bạn thân là tỉ phú Warren Buffett về cách thức để cầu hôn Melinda vợ ông. Trong một chuyến công tác trở về bằng máy bay riêng, Gates thu xếp để máy bay hạ cánh xuống Ohama (bang Nebraska) vì ở đó Warren Buffett có một cửa hàng nữ trang. Mặc dù lúc đó đã vào nửa đêm, Buffett vẫn tự tay mở cửa hàng và giúp Gates chọn nhẫn đính hôn. Đối với một “tín đồ máy tính” như Gates thì hành động này cũng giống như trong tiểu thuyết vậy.

5) Cầu hôn cùng với việc trao chiếc nhẫn đính hôn có gắn viên kim cương khổng lồ diễn ra vào cuối tháng 3/1993. Cô dâu không phải là một nhân viên tầm thường của Microsoft. Kể từ khi được tuyển dụng năm 1987 cô đã thăng tiến đều đặn và trước khi Gates ngỏ lời cầu hôn cô là Giám đốc chuyên trách phần mềm chế bản điện tử của Microsoft Publisher, chỉ huy 50 nhân viên. Trong đám cưới của Gates, chỉ có một nhân vật truyền thông được mời đó là Katherine Craham, Tổng biên tập tờ Washington Post.

6) Một số đối thủ cạnh tranh của Gates trong ngành phần mềm máy tính đã hy vọng sau khi lập gia đình Gates sẽ thay đổi thói quen làm việc điên cuồng và giảm cường độ chút ít. Thực tế, Gates cũng đã giữ nhịp chậm lại mặc dù không hề giảm tính quyết liệt trong kinh doanh. Gates nói rằng việc phát minh ra Email đã làm cho cuộc sống của ông dễ quản lý hơn, giờ đây ông đã có thể làm việc ở nhà vào những ngày nghỉ cuối tuần, gửi đi những lời nhận xét, chỉ đạo qua thư điện tử. Ông vẫn duy trì nhịp độ làm việc mà mọi người cho là phi thường, trung bình 12 tiếng một ngày tại văn phòng hoặc trong các chuyến đi công tác, 6 đến 8 tiếng ở nhà vào các ngày nghỉ. Tuy nhiên, Gates cũng nhận ra rằng phải ngủ 7 tiếng mỗi ngày để có được sự minh mẫn cần thiết.

7) Nhiều người kể cả bạn bè thân thiết của Gates nóng lòng chờ xem Gates sẽ là một ông bố như thế nào. Câu trả lời đến sớm hơn dự định, trước đó Gates nói rằng chỉ quan tâm nhiều đến con cái khi nó biết nói. Nhưng rỏi ông đã thừa nhận bé Jennifer gây nhiều xúc động hơn ông nghĩ và thừa nhận tâm trí ông đã hoàn toàn thuộc về Jennifer, “cháu biết gọi pa-pa và tỏ ra là một đứa trẻ rất có cá tính”. Nhiều lần Gates nói rằng ông chỉ để lại cho con khoảng 10 triệu USD đã là quá nhiều. Gates khẳng định sẽ đem tặng hết phần tài sản hơn 50 tỉ USD còn lại.

8) Bill Gates với vai trò kinh doanh thường được xem như một mối đe doạ và đôi khi là nơi để người ta trút những lời nguyền rủa. Nhưng Bill Gates với tư cách là một con người tỏ vẻ quyết tâm lưu lại tên tuổi của mình không chỉ như một thiên tài máy thoặc là người giàu nhất thế giới hoặc là người “tạo dáng nặn hình” quan trọng nhất trong kỷ nguyên thông tin. Ông còn muốn lưu tên tuổi của mình như là một người góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Chỉ có các thế hệ tương lai mới đưa ra những lời xét đoán chính xác về những gì ông làm. Nhưng riêng với ông, ông nhận thức rất rõ là di sản của ông sẽ được phán xét dựa trên toàn bộ quá trình phấn đấu không ngơi nghỉ của mình.___http://nhaquantri.blogspot.com

20 thg 4, 2009

Nhà quản trị nhân sự thì cần tố chất gì?

Một công ty hay một tổ chức nào dù có nguồn tài chính dồi dào, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không biết quản trị nhân sự. Chính phương thức quản trị nhân sự sẽ tạo ra bộ mặt, bầu không khí vui tươi phấn khởi hay căng thẳng, u ám trong công ty.

Bầu không khí sinh hoạt trong công ty sẽ quyết định sự thành đạt của bạn. Chúng ta không phủ nhận vai trò của các lĩnh vực khác như quản trị tài chính, quản trị sản xuất, quản trị hành chính, kế toán… nhưng rõ ràng quản trị nhân sự đóng vai trò rất quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Bất cứ cấp quản trị nào cũng phải biết quản trị nhân viên của mình.

Quản trị nhân sự là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội, đạo đức… Nó là sự trộn lẫn giữa khoa học và nghệ thuật - nghệ thuật quản trị con người.

Công việc quản trị không hề dễ dàng khiến cho vai trò của nhà quản trị trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một nhà quản trị giỏi cần biết phân tích và nắm vững các yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến công tác quản trị nhân sự.

Muốn lãnh đạo nhân viên thành công, muốn nhân viên an tâm nhiệt tình công tác, nhà quản trị phải có những bí quyết riêng. Nghệ thuật quản lý nhân sự dựa trên ba bí quyết đơn giản nhưng rất hiệu quả nhằm tăng năng suất làm việc của nhân viên, tăng lợi nhuận và sự thỏa mãn của khách hàng. Nhân viên làm việc năng suất hơn nếu như họ biết bạn muốn họ làm cái gì, họ được khen ngợi khi làm đúng và bị khiển trách rõ ràng nếu làm việc không tốt, nhưng nhân cách của họ cũng phải được tôn trọng. Những nhà quản trị nhân sự áp dụng những bí quyết này ít bị căng thẳng và dễ đạt được thành công.

Bí quyết một: xác định mục tiêu

Bí quyết đầu tiên này là nền tảng cho mọi thứ khác. Nếu mục tiêu không rõ ràng, thì không thể đánh giá được thành quả công việc của nhân viên. Trong hầu hết các công ty, nhân viên và ban giám đốc có hai mục tiêu khác biệt nhau. Nếu như ban lãnh đạo và nhân viên không thông tin cho nhau để tìm ra một số mục tiêu chung mà hai bên đều nhất trí, thì sẽ chẳng có bên nào thỏa mãn, thậm chí lại gây phiền toái cho nhau.

Nếu như bạn hỏi các nhân viên là họ có làm việc tốt hay không, thì câu trả lời thông thường nhất sẽ là: “Gần đây, tôi chưa hề bị sếp khiến trách” hoặc “không ai nói động gì tới tôi là tốt rồi”. Để tránh cho nhân viên có thái độ tiêu cực này, bạn phải xác định được mục tiêu rõ ràng. Các nhà quản trị nhân sự khôn khéo nên cho nhân viên biết ngay từ đầu là họ phải làm cái gì.

Để hoàn tất quá trình này, hãy viết các mục tiêu trên một mảnh giấy nhỏ, không quá 250 từ. Tại sao phải viết ra giấy? Để nhân viên và ban lãnh đạo có thể đọc được hàng ngày, xem hành vi của mình có phù hợp với mục tiêu hay không.

Bí quyết hai: khen ngợi

Nhà quản trị nhân sự khôn khéo áp dụng kỹ thuật khen ngợi gồm ba phần cơ bản:

1. Khen ngay lập tức - luôn luôn khen nhân viên đúng lúc họ làm tốt. Đừng để dành lời khen đó.

2. Khen cụ thể - ai cũng muốn được đối xử tốt nhưng người ta cảm thấy thích nhất khi được nói chính xác là đã làm tốt cái gì.

3. Chia sẻ tình cảm - hãy phát biểu cảm nhận của mình - không phải là những gì bạn nghĩ mà là những gì bạn cảm thấy. Tình cảm là yếu tố thân mật hơn những ý nghĩ trong mối quan hệ con người.

Quan trọng là hãy nhớ khen ngợi nhân viên ngay lúc đầu, khi mà họ bắt đầu hiểu và thực hiện được gần đúng công việc. Đừng chờ đến khi nhân viên làm thật đúng rồi mới khen. Những việc làm gần đúng sẽ tạo nên một việc làm thật đúng. Ngoài ra, đừng bao giờ khiển trách hoặc phạt nhân viên khi họ đang tìm tòi, học hỏi cách làm tốt công việc. Khiển trách họ vào lúc đó sẽ làm cho họ chán nản muốn trả đũa và thậm chí làm họ muốn thoát lui.

Bí quyết ba: Khiển trách

Bí quyết thứ ba của nhà quản trị nhân sự giỏi là sửa chữa những điều sai trái của nhân viên để tạo nên những kết quả tích cực. Có bốn quy tắc để khiển trách hiệu quả:

1. Khiển trách ngay: khiển trách ngay khi nhân viên làm sai. Đừng gom các lời khiển trách đó lại rồi “làm một lượt”. Nếu không thì khi khiển trách nhân viên chính bạn có thể sẽ nổi khùng.

2. Khiển trách cụ thể: đừng nói chung chung “Anh làm tôi muốn khùng lên…” và khi người bị khiển trách hỏi tại sao thì nhà quản trị nhân sự giỏi luôn nói rõ nguyên nhân để họ có thể sửa đổi.

3. Chia sẻ tình cảm: một khi bạn đã giải thích người ta làm sai cái gì thì hãy giải thích bạn cảm thấy thế nào về điều đó - giận, khó chịu, thất vọng hay một cảm giác khác.

4. Nói cho người ta biết họ tốt thế nào: giai đoạn cuối có lẽ quan trọng nhất. Hãy chấm dứt lời khiển trách bằng cách nói với nhân viên rằng thái độ mà bạn đang phê phán không phải là thái độ mà bạn thường thấy ở họ và lại càng không phải thái độ mà bạn mong muốn trong tương lai. Hành vi sai trái đó chỉ là hiện tượng nhất thời. Về bản chất, họ là những nhân viên tốt. Có như thế, bạn mới có thể hướng sự chú ý của người bị khiển trách vào những điều họ đã làm sai, chứ không chú ý vào cách bạn đã đối xử với người đó như thế nào.

Trong quá trình công tác, chắc hẳn không có một cấp quản trị nào lại thuận buồm xuôi gió chèo lái nhân viên của mình trong sóng biển yên lặng. Mâu thuẫn giữa các nhân viên với nhau, mâu thuẫn giữa các nhân viên với cấp quản trị, mâu thuẫn giữa nhân viên với chính sách của công ty... có thể thường xuyên xuất hiện. Nhà quản trị phải khôn ngoan, khéo léo giải quyết các vấn đề một cách khoa học nhưng nên uyển chuyển, tránh để xảy ra các cuộc xô xát, đình công hay bãi công. Và tốt nhất vẫn là nhà quản trị biết giao tế nhân sự giỏi, biết thu phục và biết động viên nhân viên để họ làm việc một cách hăng hái, đưa công ty đến đỉnh thành công.___http://nhaquantri.blogspot.com

14 thg 4, 2009

Ngành Quản trị kinh doanh

Để tiến hành những hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện làm việc tập thể ( nhóm hay tổ chức ), nhất thiết phải thực hiện quản trị các hoạt động đó. Công việc này được gọi là quản trị kinh doanh
Cụ thể hơn, quản trị kinh doanh là tổng hợp của các quá trình:

- Xác định mục tiêu kinh doanh

- Phối hợp, tổ chức, chỉ huy và điều hành hoạt động để thực hiện mục tiêu kinh doanh đã đề ra

- Kiểm tra, kiểm soát hệ thống tổ chức đã hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Công việc chính của quản trị viên

Mục tiêu chung của quản trị kinh doanh là duy trì và thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành của toàn bộ doanh nghiệp, hướng vào thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Quản trị kinh doanh thực chất là một ngành rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong xã hội. Quản trị kinh doanh có thể được tiếp cận theo ba góc độ chủ yếu:

* Quản trị kinh doanh chung (đa ngành, đa lĩnh vực, đa chức năng)

* Quản trị kinh doanh theo đối tượng (hay còn gọi là theo ngành) trong nền kinh tế như: kinh doanh công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm v.v...

* Quản trị kinh doanh theo chức năng trong doanh nghiệp như: quản trị nhân lực, tài chính, marketing, hậu cần, công nghệ, chất lượng v.v...

Ngoài ra, còn có thể tiếp cận quản trị kinh doanh theo tiến trình quản trị trong doanh nghiệp như: hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm soát v.v...

Trong doanh nghiệp, quản trị kinh doanh được chia làm ba cấp chủ yếu:

* Quản trị viên cấp cao: tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, giám đốc chức năng hay lĩnh vực v.v...

* Quản trị viên cấp trung: trưởng phòng, ban, quản đốc phân xưởng v.v...

* Quản trị viên cấp cơ sở: những quản trị viên còn lại.

Tựu trung lại, công việc chính của quản trị viên là:

- Hoạch định kinh doanh

- Tổ chức kinh doanh

- Tổ chức quản trị kinh doanh

- Lãnh đạo, điều hành kinh doanh

- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh

Điều kiện làm việc và cơ hội nghề nghiệp

Thu nhập cao, môi trường làm việc năng động và cơ hội thăng tiến nhanh là những lý do khiến ngành này đang thu hút nhiều bạn trẻ. Bạn là người say mê kinh doanh, yêu thích các công việc đòi hỏi đầu óc tổ chức, quản lý, bạn có thể nhanh chóng thích nghi với môi trường công việc.

Ngành này có địa bàn hoạt động rộng nên bạn sẽ có cơ hội để đến với nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam cũng như trên thế giới. Thị trường và môi trường kinh doanh luôn thay đổi vừa là thách thức, vừa là niềm vui cho bạn. Công việc không dập khuôn máy móc khiến bạn không cảm thấy nhàm chán.

Chỉ tính riêng trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nước ta có hơn 15 vạn doanh nghiệp. Theo chủ trương của Nhà nước, tới năm 2010, cả nước sẽ có khoảng 50 vạn doanh nghiệp. Nhu cầu về những quản trị viên giỏi, nhạy bén bởi vậy rất lớn.

Đặc biệt, với kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh bài bản được đào tạo, bạn hoàn toàn có thể lập và quản trị công việc kinh doanh của chính mình hoặc doanh nghiệp của gia đình.

Phẩm chất và kỹ năng cần thiết

- Kiến thức tự nhiên và xã hội, kiến thức về kinh doanh vững vàng

- Thành thạo ngoại ngữ và tin học

- Có khát vọng làm giàu chính đáng

- Sáng tạo và đổi mới, tầm nhìn xa trông rộng

- Có năng lực tổ chức và quản lý, tự tin, biết cách khắc phục rủi ro

- Có đạo đức kinh doanh

Một số địa chỉ đào tạo

Ngành Quản trị kinh doanh hiện được đào tạo ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng kinh tế, tài chính... nên bạn dễ dàng tìm được địa chỉ đào tạo phù hợp tại những trường này.
---nhaquantri.blogspot.com

13 thg 4, 2009

Từ giảng đường tới công sở

( Bình chọn: 4 -- Thảo luận: 2 -- Số lần đọc: 3152)
Ai cũng đã một thời mài đũng quần trên giảng đường để ra trường với tấm bằng mưu sinh cuộc sống. Việc làm đang là chủ đề nóng nhất trong những ngày hè khi phần lớn sinh viên chuẩn bị ra trường, quãng đường từ giảng đường tới công sở, sinh viên và doanh nghiệp cần những gì?
Sinh viên ngày nay đã khác những gì mà nhà tuyển dụng và xã hội nhìn nhận về họ, lâu nay chúng ta tư duy theo lối mòn rằng sinh viên đồng nghĩ với học tốt, bằng giỏi và thiếu kiến thức trầm trọng. Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ của lịch sử và sinh viên là đối tượng tích cực nhất với việc phát triển kinh tế của Việt Nam thời gian lớn, những người chủ tương lai của đất nước đã và đang làm gì để thu gọn khoảng cách từ ghế giảng đường tới công sở- nơi họ sẽ gắn bó suốt cuộc đời còn lại.

Năng động : Đây là từ cửa miệng của nhiều người khi nói về các hoạt động của sinh viên, một sự thay da đổi thịt của thị trường lao động khi mỗi cá nhân đều có những hoạt động tích cực. Sinh viên ngày nay phần lớn ý thức được về cuộc sống và sự nghiệp trong tương lai, họ đặt ra các mục tiêu phấn đấu và quyết tâm thực hiện nó bằng cách tạo cho mình những công việc thực tế, sinh viên bây giờ dành ít thời gian lên giảng đường, thư viện mà dành thời gian để làm các công việc ngoại khóa, tham gia các hoạt động xã hội. Nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến các hoạt động ngoại khóa của sinh viên, họ đã thoát ra khỏi sự nhàm chán mà thay vào đó là những thú vị và tính thực tế. Sinh viên tự tổ chức các nhóm làm việc, các câu lạc bộ nghiên cứu, làm việc để hỗ trợ bổ sung kiến thức cho nhau. Sinh viên có khả năng tổ chức những chương trình lớn một cách bài bản. Từ những công việc nhỏ nhất đến lớn nhất, họ đã bắt đầu học được những kiến thức thực tiễn thứ mà giảng đường và giảng viên ít khi đem đến cho họ. Sinh viên đi làm thêm không phải điều xa lạ nhưng giờ đây sinh viên ít khi quan tâm đến những công việc như tiếp thị, gia sư mà họ bắt đầu len lỏi vào những văn phòng từ ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, họ tìm kiếm các cơ hội làm việc đúng chuyên ngành, sở thích, bắt đầu đi lên từ những nhân viên thực tập dần dần họ trưởng thành để rồi đứng vào đội ngũ của doanh nghiệp ngay từ trước khi ra trường.

Học đúng nhu cầu: Chúng ta hàng ngày vẫn than thở trên các phương tiện thông tin đại chúng về chất lượng đào tạo tại Đại Học, phần lớn chỉ đề cập đến trách nhiệm của người làm thầy và người quản lý mà quên đối tượng chính của đào tạo là học sinh, sinh viên chúng ta đã bao giờ hỏi xem sinh viênmuốn được đào tạo như thế nào? Trước khi chúng ta "kịp" nghĩ ra các giải pháp thì sinh viên đã đi trước nền giáo dục một bước khi tự tạo cho mình các cách học các môn học theo sở thích và nhu cầu. Ngoài giờ học trên giảng đường, nhiều sinh viên thường xuyên lên mạng internet vào các diễn đàn trao đổi học tập, các diễn đàn chuyên ngành để được trao đổi, học tập các kiến thức mà những kiến thức đó ít khi được giới thiệu trên giảng đường. Sinh viên không học tràn lan các môn học như chính khóa mà tập trung vào một số môn họ coi là thế mạnh của mình, họ cố gắng hoàn thiện kiến thức và kỹ năng.Không ít sinh viên kinh tế có bằng quản trị mạng và các sinh viên kỹ thuật có khả năng làm marketing giỏi hơn một sinh viên đào tạo bài bản. Trước khi thay đổi phong cách giáo dục tại Đại học, hãy gạt bỏ những quan niệm cố hữu, những ắp đặt xã hội lên cả một thế hệ, giáo dục là tăng cường khả năng làm việc và sáng tạo, gò bó và khuôn khổ sẽ bóp chết những cây giống và làm nó cằn cỗi ngay từ khi đâm chồi nảy lộc.

Hoài bão, khát vọng: Hàng năm xã hội đào tạo ra khoảng 50.000 cử nhân, kỹ sư trên tất cả các lĩnh vực, họ đang bổ sung vào đội ngũ nhân lực của nền kinh tế bằng những niềm đam mê hoài bão trong cuộc sống. Các doanh nghiệp tư duy rằng sinh viên cần một công việc để sống mà quên mất những ước mơ của sinh viên. Một vị trí làm việc không phù hợp sẽ nhanh chóng thui chột những tài năng, những hoài bão và để rồi họ lần lượt rời bỏ và rời đến các doanh nghiệp khác nơi họ có thể chứng minh khả năng. Sinh viên luôn giàu ý tưởng, hoài bão và muốn biến những ý tưởng trở thành hiện thực, bản thân nhà tuyển dụng thường đưa ra những câu hỏi về ước muốn của lao động trẻ và luôn đi từ bất ngờ tới thán phục sự sáng tạo của sinh viên. Môi trường đào tạo đã bó buộc khả năng sáng tạo và tư duy của sinh viên, nếu doanh nghiệp nhà nước và tư nhân không thể giúp họ phát huy được khả năng, sự lựa chọn hàng đầu của các sinh viên sẽ là các công ty nước ngoài- nơi người lao động được thể hiện mọi khả năng sáng tạo của mình, chúng ta đánh mất nhân tài chỉ vì những lý do đơn giản nhất.

Doanh nghiệp là đối tượng cầu của thị trường lao động, mỗi doanh nghiệp đều có những chiến lược chung để phát triển nguồn nhân lực của mình, những doanh nghiệp thành công là những doanh nghiệp phát triển và duy trì một đội ngũ nhân lực trẻ và chất lượng cao. Doanh nghiệp hay phàn nàn về các chi phí đào tạo lại nhân viên trẻ mới vào doanh nghiệp mà chính bản thân họ không thể đề ra giải pháp trong việc này. Chúng ta đặt một bài toán cho doanh nghiệp và sinh viên, họ cùng ngồi để trao đổi một cách nghiêm túc, doanh nghiệp có thể làm được gì để có được nhân lực giỏi, sinh viên cần gì ở doanh nghiệp? Tại sao doanh nghiệp không đào tạo cho sinh viên ngay từ khi họ đang học trên giảng đường, tại sao chúng ta không cho sinh viên cơ hội để làm việc để họ tích lũy thêm kinh nghiệm? Thay vì mất rất nhiều công sức để tuyển dụng những sinh viên mới ra trường, doanh nghiệp có thể tìm kiếm những nhân lực phù hợp, đào tạo họ cùng với nhà trường để ươm mầm tài năng. Thay vì chuẩn bị những bài test, những câu hỏi trắc nghiệm phức tạp, hãy cho sinh viên cơ hội chứng tỏ mình từ những công việc đơn giản nhất và có thể uấn nắn, đào tạo họ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hãy tích cực hơn để thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và công sở.

CÁC CHUYÊN NGÀNH THUỘC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH:

Đây là những chuyên ngành thuộc khoa quản trị kinh doanh trường mình:Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.
1. Quản trị kinh doanh thương mại:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh thương mại, có kiến thức, hiểu biết và vận dụng được các quy luật vận động của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN vào lĩnh vực thương mại một cách có hiệu quả cao.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ở các công ty, tổng công ty thương mại, các doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu và có thể làm giảng viên trong ở các trường đại học, THCN.


2. Thương mại quốc tế:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân thương mại quốc tế, có tư duy kinh tế tổng hợp và quản trị kinh doanh ngoại thương, hiểu được các quy luật vận động của thị trường thế giới và khu vực, tôn trọng hiến pháp và pháp luật. Trên cơ sở đó, có khả năng áp dụng vào thực tiễn quản trị và kinh doanh ngoại thương ở nước ta trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ở các công ty, tổng công ty thương mại, xuất nhập khẩu, các cơ quan nghiên cứu và có thể làm giảng viên trong ở các trườg đại học, THCN.


3. Quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng cơ bản:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng cơ bản có kiến thức cơ bản về quản trị kinh doanh các loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Họ có thể thực hiện các chức năng quản trị điều hành các mặt hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trên, có kiến thức chuyên môn, phương pháp, bản lĩnh trong việc thực hiện công việc quản trị doanh nghiệp.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc tại các phòng ban của tất cả các loại hình doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng cơ bản, giao thông, bưu điện, các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp có liên quan hoặc có thể giảng dạy tại các trường đại học, THCN, làm các bộ nghiên cứu ở các ban, ngành từ trung ương tới các cấp cơ sở.


4. Quản trị kinh doanh tổng hợp:(mình đang học đấy)

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh tổng hợp có kiến thức rộng về kinh tế, kinh doanh và chuyên sâu về ngành quản trị kinh doanh, có khả năng ứng dụng máy tính và ngoại ngữ trong công việc.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc tại văn phòng tổng hợp hoặc trợ lý giám đốc của doanh nghiệp nhà nước, tư nhân liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, tổng công ty...


5. Quản trị chất lượng:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị chất lượng có kiến thức về quản trị kinh doanh, quản lý Nhà nước đối với chất lượng, quản lý chất lượng sản phẩm ở phạm vi doanh nghiệp, bao gồm: Các biện pháp về bảo đảm chất lượng và biện pháp quản lý chất lượng đồng bộ của doanh nghiệp. Nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm công tác quản lý chất lượng ở phạm vi quản lý Nhà nước hoặc ở các Tổng công ty, công ty...


6. Marketing:

- Mục tiêu đào tạo về chuyên môn:

+ Đào toạ các cử nhân có khả năng thực hiện các công việc chuyên môn Marketing trong một doanh nghiệp hoặc một tổ chức như: Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động nghiên cứu thị trường, nghiên cứu Marketing, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, xác lập các mức giá bán sản phẩm và điều hành chiến lược Giá, tổ chức và quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, tổ chức và quản lý lực lượng bán hàng trực tiếp. Quản lý và thực hiện các hoạt động Quảng cáo và khuyến mại sản phẩm. Lập chiến lược kinh doanh và chiến lược Marketing v.v.. và Tư vấn về Marketing cho các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác nhau với tư cách các nhà tư vấn chuyên nghiệp.

+ Đảm nhận được các vị trí Quản trị về Marketing trong các Doanh nghiệp và tổ chức như: Giám đốc phụ trách tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp, người phụ trách các dự án Nghiên cứu Marketing, người Quản trị mạng lưới Kênh phân phối, người phụ trách các hoạt động Quảng cáo của Doanh nghiệp.


7. Quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn có kiến thức rộng và vững chắc về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, có kiến thức chuyên sâu về kinh tế Du lịch, quản trị kinh doanh Du lịch và Khách sạn. Biết vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động thực tiễn du lịch Việt Nam

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu về kinh tế, về Du lịch, các doanh nghiệp Du lịch : Lữ hành, khách sạn, nhà hàng và dịch vụ với trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tính chủ động, sáng tạo, kỷ luật và sức khoẻ tốt đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế, phát triển ngành Du lịch Việt Nam theo hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá.


8. Quản trị kinh doanh lữ hành:

- Mục tiêu đào tạo về chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân quản trị lữ hành và hướng dân du lịch có kiến thức rộng và vững chắc về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, có kiến thức chuyên sâu về du lịch, quản trị kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch. Biết vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động thực tiễn du lịch Việt Nam

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu về kinh tế, về Du lịch, các doanh nghiệp Du lịch, các đại lý du lịch, lữ hành, khách sạn, đồng thời có khả năng hướng dân du lịch, có tính chủ động, sáng tạo, kỷ luật và sức khoẻ tốt đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế, phát triển ngành Du lịch Việt.


9. Quản trị nhân lực:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân có kiến thức cơ bản về quản lý con người trong sản xuất kinh doanh, những kỹ năng kỹ xảo nhất định về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ở các cơ sở sản xuất kinh doanh với chức năng quản lý nguồn nhân lực con người trong các cơ sở sản xuất kinh doanh đó.


10. Quản trị kinh doanh quốc tế:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo các cử nhân Quản trị Kinh doanh Quốc tế (Quản trị kinh doanh đối ngoại) có kiến thức cơ bản, hiện đại về quản trị kinh doanh nói chung và quản trị kinh doanh quốc tế nói riêng, đặc biệt là các kiến thức nghiệp vụ về xuất nhập khẩu, về đầu tư nước ngoài, về các dịch vụ thu ngoại tệ, xây dựng chiến lược kinh doanh, nghiên cứu thị trường nước ngoài, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế cho đến việc đàm phán và ký kết hợp đồng; triển khai và hoàn tất một nghiệp vụ kinh doanh quốc tế.

+ Sinh viên tốt nghiệp có thể làm tư vấn xây dựng chiến lược, các phương án kinh doanh và các tác nghiệp kinh doanh. Quản lý và điều hành doanh nghiệp, trước hết là ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, liên doanh với nước ngoài, các dịch vụ đối ngoại. Trợ lý văn phòng hoặc trợ lý kinh doanh trong các doanh nghiệp, các chi nhánh, văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài ở Việt Nam hoặc công ty Việt Nam ở nước ngoài. Hỗ trợ và điều hành các hoạt động thường nhật của các doanh nghiệp. Có thể làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, các ngành, các Bộ.


11. Luật kinh doanh:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo các chuyên viên Pháp luật kinh doanh có trình độ cử nhân ngành quản trị kinh doanh vừa có kiến thức cơ bản về kinh tế, về quản lý Nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh, vừa có kiến thức chuyên sâu về pháp luật kinh doanh trên thị trường trong nước và quốc tế, am hiểu lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật và các môn khoa học pháp lý ngành chủ yếu, có khả năng vận dụng pháp luật vào các tình huống kinh doanh.

+ Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Luật kinh doanh có thể thực hiện chức năng trợ lý pháp luật tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, xử lý các tình huống kinh doanh đúng pháp luật, giải quyết các vấn đề pháp lý trong kinh doanh. Sinh viên chuyên ngành Luật kinh doanh cũng có thể thực hiện chức năng của mình trong các cơ quan tài phán khi giải quyết các vụ án trong lĩnh vực kinh doanh. Có thể giảng dạy luật kinh doanh ở các trường đại học, cao đẳng, THCN.


12. Quản trị quảng cáo:

- Mục tiêu đào tạo về mặt chuyên môn:

+ Đào tạo cử nhân có kiến thức cơ bản về quản trị kinh doanh, có kiến thức chuyên sâu về thiết kế thong điệp quảng cáo, truyền tải thông điệp, có khả năng thiết kế bao bì, nhãn mác sản phẩm, biểu tượng, logo cho các doanh nghiệp. Biết tuyên truyền, tạo dựng uy tín, hình ảnh cho sản phẩm và cho doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

+ Sau khi tốt nghiệp có thể tổ chức và thực hiện quảng cáo, giám sát các hoạt động quảng cáo, tư vấn quảng cáo cho các doanh nghiệp, các công ty quảng cáo, công ty các cơ quan báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở trung ương và địa phương

Nghề Quản Trị Kinh Doanh.

Quản trị là nghề vượt thời gian và nhân bản - nhân bản vì chính con người làm quản trị. Mọi thành tựu của quản trị là thành tựu của nhà quản trị. Mọi thất bại của quản trị là thất bại của nhà quản trị. Tầm nhìn, sự tận tâm, và tính chính trực của nhà quản trị sẽ quyết định quản trị đúng hay quản trị sai.
Quản trị kinh doanh là việc thực hiện các hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của một hoặc một số doanh nghiệp trong một ngành nào đó.
Trong kinh doanh, quản trị bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa hóa "hiệu suất" hoặc/ và "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý. Quản lý có thể được định nghĩa là quá trình phổ quát của con người và tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để hoạt động và đạt được các mục tiêu.
Quản trị viên là danh hiệu chung chỉ các cấp, các chức danh quản lý của các công ty hoặc quản lý chung, các thư ký; người báo cáo cho Ban giám đốc. Đây là chức danh, nhưng trong nhiều doanh nghiệp, chức danh này liên quan đến quản lý tài chính, nhân sự và quản lý hệ thống thông tin dịch vụ là để thể hiện vai trò "quản lý" chung.
Vai trò của nhà quản trị là định ra các mục tiêu, tổ chức, động viên khuyến khích và truyền đạt thông tin, đo lường, và phát triển con người. Đóng góp duy nhất mà nhà quản trị cần có là giúp người khác có tầm nhìn và khả năng làm việc tốt.Chính tầm nhìn và trách nhiệm luân lý là những yếu tố xác định rõ nhà quản trị.
Phải thực hành 5 nguyên tắc sau để đảm bảo đúng tinh thần xuyên suốt trong tổ chức quản trị:Phải có yêu cầu cao về kết quả công việc; không chấp nhận kết quả kém hay tầm thường; và những chế độ thưởng phải dựa vào kết quả công việc.
Mỗi công việc quản trị tự thân nó phải là một phần thưởng, chứ không phải là một bậc trong cái thang thăng tiến. Cần phải có một hệ thống đề bạt thăng chức hợp lý và công minh. Ban giám đốc cần có một điều lệ nêu rõ ai có quyền ra những quyết định mang tính sống còn ảnh hưởng đến một nhà quản trị; và nên có cơ chế để một nhà quản trị có thể kháng cáo lên một cấp quyết định cao hơn. Khi ra quyết định bổ nhiệm, ban giám đốc phải cho thấy rằng mình công nhận tính chính trực là yêu cầu tuyệt đối duy nhất của một nhà quản trị, phẩm chất duy nhất mà người đó phải có sẵn chứ không thể kỳ vọng là sau này mới có.
Công việc của nhà quản trị nên dựa trên một nhiệm vụ cần thực hiện để đạt được các mục tiêu của công ty. Nhà quản trị nên được chỉ đạo và kiểm soát bằng các mục tiêu của hoạt động kinh doanh, chứ không phải bằng cấp trên của mình.
Vai trò rộng hơn nêu ra 7 nhiệm vụ mới cho những nhà quản trị cho tương lai: quản trị theo mục tiêu; chấp nhận nhiều rủi ro hơn và trong thời gian dài hơn trước mắt; ra những quyết định mang tính chiến lược; xây dựng một tập thể hòa hợp, trong đó mỗi thành viên có khả năng quản lý và đo lường kết quả của chính mình so với những mục tiêu chung; truyền đạt thông tin nhanh và rõ ràng; xem doanh nghiệp là một tổng thể và hợp nhất chức năng của mình với tổng thể đó và; hiểu rõ nhiều sản phẩm và nhiều ngành.
Nói sơ sơ qua cũng thấy là ngành này chẳng sung sướng chút nào phải ko các bạn,thế mà mình vẫn thích mới cay đấy chứ!