Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị hậu cần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản trị hậu cần. Hiển thị tất cả bài đăng

5 thg 5, 2009

Quy luật Pareto

Vào một lúc nào đấy trong cuộc sống, chúng ta sẽ biết qua quy luật 80/20. Khá đơn giản, vì quy luật này nói lên rằng với 20% nỗ lực sẽ tạo ra 80% kết quả cuối cùng. Có thể bạn đã biết đến quy luật này dưới cái tên “Quy luật Pareto” hay “Quy luật nỗ lực tối thiểu”.
Vào năm 1897, Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Italia, trong khi đang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh trong thế kỷ 19, đã phát hiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ số người trong xã hội. Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thu nhập.
Trong những phân tích và nghiên cứu tiếp theo, nhà kinh tế học huyền thoại này đã phát hiện ra rằng, nguyên tắc này không chỉ đúng trong nhiều quốc gia, giai đoạn lịch sử mà còn đúng với những gì xảy ra ngay trong khu vườn ông ta. Ở đây, ông ta thấy được, chỉ 20% cây đậu Hà Lan ông trồng đã cho ra đến 80% hạt đậu mà ông thu hoạch được.Từ khi quy luật này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát biểu tương tự như: 20% tội phạm là nguyên nhân của 80% các vụ phạm tội. 20% số người lưu thông trên được tạo ra 80% các vụ tai nạn. 20% tuyền đường chiếm 80% lưu lượng xe cộ hàng ngày. 20% những lỗi hàng hoá làm nảy sinh 80% các vấn đề rắc rối.
Thường gặp nhất là chúng ta vẫn nghe nói rằng, 20% khách hàng tạo ra 80% lợi nhuận cho một doanh nghiệp.Tôi tin rằng, các bạn thử quan sát xung quanh mình hay nhìn lại quỹ thời gian hàng ngày, hãy xem những kết quả bạn đạt được, chúng xảy ra theo quy luật 50/50 hay 80/20?.
Richard Kock, người sáng lập ra Bain&Co. và BCG Consultant, từng khẳng định rằng: “20% việc chúng ta làm tạo ra 80% kết quả, nhưng 80% công việc còn lại chỉ tạo được 20% kết quả cuối cùng mà thôi. Chúng ta đang phí phạm 80% thời gian của mình vào những việc kém hiệu quả”. Vậy lời khuyên của Koch là, thay vì cật lực theo đuổi tất cả các cơ hội sẵn có, chúng ta hãy bình tĩnh hơn, làm việc ít hơn và tập trung định hướng vào những mục tiêu có giá trị nhất dựa trên cách suy nghĩ của quy luật 80/20”.
Luật 80/20 trong cuộc sống kinh doanh
Vài tháng trước, tôi có nói chuyện một người bạn làm trong lĩnh vực in ấn quảng cáo. Anh ta đang cố gắng mở rộng hệ thống và muốn tìm kiếm những khách hàng tiềm năng mới. Rất tiếc, anh ta chỉ đủ thời gian để quản lý hệ thống những khách hàng sẵn có, nên chưa thể phát triển được. Khi tôi nói về quy luật 80/20, anh ta phát hiện ra rằng, chỉ có khoảng 20% khách hàng đem lại hầu hết lợi nhuận trong công ty. Trong khi, 80% số khách hàng hiện tại chẳng những không đem lại nhiều lợi nhuận mà đôi khi còn khiến anh ta mệt mỏi. Có thể còn nhiều yếu tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp, xây dựng chiến lược kinh doanh trong trường hợp này, nhưng điều tôi muốn nói ở đây là, quy luật 80/20 tồn tại trong nhiều trường hợp hiển nhiên, đến mức chúng ta đôi lúc chẳng nhận ra sự hiện diện chúng.
Ngày nay, mở rộng kinh doanh có lẽ là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp dường như luôn thích thú với ngọn núi bên cạnh hơn là ngọn núi mình đang đứng. Kết quả, họ mất đi sự tập trung cần thiết để duy trì và phát triển thế mạnh của mình. Trong khi lẽ ra phải tập trung hơn vào sở trường, họ lại thích dàn trải hơn và trong hầu hết các trường hợp, kết quả kinh doanh thường bi quan hơn.
Trên thị trường, có rất nhiều chủng loại sản phẩm mà ở đây, 20% thương hiệu đứng đầu chiếm đến 80% thị phần. Đó cũng chính là lý do vì sao tập đoàn GE có lúc đã bán đi tất cả thương hiệu không phải là đứng đầu hay đứng thứ hai. Trong kinh doanh nói chung và marketing nói riêng, tập trung luôn là một vấn đề cốt lõi và cần thiết để thành công. Cho dù đó là một thành công về thị phần, doanh thu hay sự phát triển dài hạn trong tương lai. Vậy ngay hôm nay, hãy xác định những sản phẩm hay khách hàng nằm trong “Top 20%” của mình và dành cho họ nhiều thời gian và nỗ lực, bạn nhé!
Nghiên cứu – học tập
Bạn thường đọc một cuốn sách như thế nào? Từ trang này sang trang khác? Như vậy, bạn đang8020rule.gif lãng phí rất nhiều thời gian của chính mình. Thông thường, 80% những thông tin có giá trị nhất gói gọn trong 20% nội dung của quyển sách và nó thường chỉ chiếm 20% thời gian so với khoảng thời gian hầu hết mọi người xem xong toàn bộ quyển sách.
Nếu bạn đọc một quyển sách hay tài liệu để giải trí, tôi khuyên bạn hãy thử đọc mục lục và phần giới thiệu đầu tiên. Sau đó, là phần kết luận trước khi sang chương đầu, xem qua các biểu đồ, hình vẽ nếu có. Quay lại phần kết luận một lần nữa và có thể xem chi tiết vài phần bạn cảm thấy thật sự thú vị. Với cách đọc như vậy, bạn sẽ nắm được nội dung chính yếu nhất của quyển sách. Tốt hơn nữa, bạn có thể ghi chú lại hoặc làm “slide” tóm tắt về nó. Việc cần và nên làm là, nhớ xem chúng ta có thể tìm được thông tin cần thiết ở đâu từ tài liệu đã xem trong thời gian ngắn nhất. Trong thế giới tràn ngập những thông tin quá tải như hiện nay, việc rèn luyện và tuân thủ theo quy luật 80/20 là cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Xã hội
Hãy ngẫm lại xem, có lẽ bạn sẽ nhận ra rằng, 20% số bạn bè của bạn đem đến cho bạn 80% niềm vui và sự hài lòng. Có vẻ hơi khó nghe nhưng tại sao bạn không dùng nhiều thời gian gặp gỡ những người bạn giúp bạn cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn những người bạn khác? Giữ cho tinh thần thoải mái cũng là một yếu tố rất quan trọng để giữ gìn sức khoẻ và đạt được thành công trong công việc. Vậy tại sao không áp dụng ngay quy luật 80/20 này vào cuộc sống để xem bạn sẽ cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn như thế nào?
Theo Richard Koch, “Quy luật 80/20, có thể giải phóng bạn. Bạn có thể làm việc ít hơn mà vẫn có thể kiếm nhiều lợi nhuận hơn, vui vẻ và nhàn nhã hơn”.
Hiện tại, người ta đã nói đến quy luật 90/10. Trên thực tế, 10% dân số thế giới đang nắm giữ 90% tài sản, trong khi 90% dân số còn lại chỉ sở hữu có 10% toàn bộ tài sản trên thế giới. Nỗ lực tối thiểu đang tạo ra kết quả to lớn hơn, đòi hỏi chúng ta cần phải tập trung cao độ hơn. Nếu bạn muốn nằm trong số 10% dân số nói trên, tôi tin rằng quy luật này rất cần thiết và hữu ích cho bạn.
Sau cùng, xin nhớ rằng, cố gắng ít hơn và kết quả cao hơn mới là những điều thật sự tốt. Hãy bắt đầu tìm kiếm và củng cố 20% của riêng mình để tiếp tục nâng hiệu quả làm việc lên gấp nhiều lần!

4 thg 5, 2009

Không thể thiếu "4 chữ P"

Để quyết định đeo đuổi nghề marketing, bạn trẻ cần có 4 chữ P: passion (đam mê), possibility (khả năng), preparation (chuẩn bị), practice (thực hành).

Hiểu chính mình

"...Thời kỳ lạm phát này, ai dám bỏ tiền ra làm thương hiệu trong khi phải tiết kiệm chi phí càng nhiều càng tốt. Muốn đổi việc vì lương bổng thì đề nghị vào xem chủ đề "đeo đuổi nghề" hoặc "nghề & nghiệp" trong diễn đàn để biết thêm câu trả lời nhé!" - thành viên Bamboo trên diễn đàn Jobviet.com không đồng tình với quan điểm theo nghề marketing chỉ vì thu nhập cao. Chị Phan Thị Trúc, Trưởng phòng marketing Công ty L & A cũng khuyên rằng: "Đừng "a dua" theo xu hướng xã hội hay thành công của người khác mà hãy để thành công của thế hệ đi trước là động lực giúp bạn vượt qua những khó khăn trong nghề. Giữa khả năng và đam mê thì lựa chọn ưu tiên dành cho đam mê vì nó là động lực giúp bạn vượt qua mọi khó khăn nghề nghiệp.

Một kế hoạch marketing hiệu quả nhờ kết quả điều nghiên chính xác có thể xoa dịu cảm giác bị xúc phạm của nhân viên nghiên cứu thị trường khi bị từ chối một cách thô lỗ. Nụ cười hài lòng của khách hàng sẽ là liều thuốc bổ đối với nhân viên tổ chức sự kiện, bù lại đêm trắng chuẩn bị cho chương trình...".

Bên cạnh đó, khả năng cũng là một yếu tố rất quan trọng. Hiện nay marketing được xem là một trong những ngành "hot" trên thị trường lao động đã khiến nhiều bạn trẻ xem đó là niềm đam mê nghề nghiệp của mình mà chưa đánh giá tố chất bản thân có phù hợp với nghề hay không. Nói chung, ngành marketing đòi hỏi bạn phải có khả năng giao tiếp tốt, năng động, sáng tạo và nhạy bén. Ông Đặng Huy Hiệp, Phó tổng giám đốc Công ty liên doanh Tôn Phương Nam cho biết thêm: "Những kiến thức về chuyên ngành cộng với sự hiểu biết thị trường, văn hóa của từng vùng miền, sự nhiệt tình, chịu khó là những hành trang cần thiết với những bạn trẻ muốn bước vào con đường marketing".

Học từ thực tế

Bạn trẻ cần tự tìm hiểu những kiến thức căn bản về marketing, như: nghiên cứu thị trường, các chiến lược tiếp thị, quảng cáo, xây dựng thương hiệu... Ngoài việc tham gia các khóa học chuyên môn, để nâng cao hiệu quả công việc, bạn cũng cần tham gia các khóa đào tạo kỹ năng mềm về: lãnh đạo, lập kế hoạch, kỹ năng thuyết trình, giải quyết vấn đề sáng tạo... Thường xuyên theo dõi tin tức trên báo chí, sách chuyên ngành cũng là cách để bạn có thể cập nhật thông tin về ngành nghề và những xu hướng marketing mới. Chẳng hạn, một số doanh nghiệp quan tâm xây dựng tính nhân văn cho thương hiệu của mình thông qua các hoạt động đóng góp thiết thực vào xã hội, nói cách khác là làm tăng giá trị xã hội của doanh nghiệp. Điển hình, Công ty Tôn Phương Nam đã tài trợ chương trình truyền hình "Một điều ước" của VTV để góp phần hiện thực hóa những ước mơ đẹp đẽ và nhân văn của con người trong cuộc sống, tổ chức chương trình "Hành trình nghề nghiệp" để góp phần định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ, cứu trợ lũ lụt bằng tiền mặt chứ không phải sản phẩm để đem lại lợi ích thiết thực nhất cho đồng bào...

Bên cạnh đó, tham gia vào các diễn đàn nghề nghiệp cũng như tham gia các buổi giao lưu với gương thành công trong nghề để trao đổi về những khó khăn, thất bại hay hào quang của nghề sẽ giúp bạn rút được nhiều thông tin bổ ích. Bạn trẻ hãy tích cực tham gia vào các buổi gặp mặt offline của các diễn đàn để mở rộng, thiết lập mối quan hệ và tìm cho mình một cố vấn nghề nghiệp. Bạn Vũ Đức (thành viên diễn đàn Openshare) cho hay: "Tôi đã làm quen và kết bạn với khá nhiều người. Chúng tôi hiện nay vẫn còn liên lạc và thường xuyên trao đổi tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau".

Đối với các bạn sinh viên, kinh nghiệm khi tham gia các hoạt động Đoàn - Hội, tình nguyện, làm việc bán thời gian... không những tạo điều kiện cho các bạn học hỏi các kỹ năng tổ chức, giao tiếp mà còn là một trong những cách ghi điểm với nhà tuyển dụng.

24 thg 4, 2009

Các điều kiện để nộp đơn xin học MBA

(Mình sưu tầm để dành cho những nhà quản trị tương lai muốn có nhiều cơ hội thăng tiến hơn)
Nộp đơn xin học MBA đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian.Các trường khác nhau trường thường đặt nặng các điều kiện khác nhau, nhưng một cách tổng quát, các trường kinh doanh thường đòi hỏi ứng viên các điều kiện sau

- Bài luận (essays)
- Kinh nghiệm làm việc
- Điểm GMAT
- Phỏng vấn
- Hoạt động xã hội
- Điểm trung bình (GPA)
- Toefl

Qua các điều kiện bắt buộc trên, ứng cử viên phải thể hiện được khả năng học tập, khả năng lãnh đạo và làm việc tập thể, cũng như tiềm năng có thể trở thành một nhà quản lí thành công.

• Bài luận

Bài luận theo tôi là yếu tố quan trọng nhất. Thông qua bài luận, các trường hi vọng có thể tìm được những ứng viên thích hợp. Thích hợp nghĩa là các trường tin rằng bạn sẽ thật sự hòa nhập với các hoạt động, bạn thực sự thích và muốn gắn bó với trường, năng động, và bạn có thể đóng góp sự đa dạng của lớp học từ những kinh nghiệm cá nhân. Do vậy, câu hỏi “tại sao bạn lại muốn học trường XYZ” luôn luôn được nêu ra trong các bài luận và phỏng vấn.


Các bài luận thường xoay vào các câu hỏi như: tại sao bại lại chọn học MBA? Bạn muốn chọn nghề nghiệp gì tương lai? Khả năng lãnh đạo, sáng tạo và giải quyết vấn đề của bạn như thế nào? Các trường càng xếp hạng cao, có nhiều ứng viên với điểm GMAT và GPA rất cao thì bài luận càng khó (điển hình như Stanford) và có độ quan trọng cao.

• Kinh nghiệm làm việc

Kinh nghiệm làm việc là yếu tố các trường sử dụng để làm đa dạng hóa lớp học MBA. Mỗi người xuất thân từ mỗi ngành nghề có kiến thức và cách tiếp cận vấn đề khác nhau, qua đó sẽ cung cấp cho những người khác một cái nhìn rộng, toàn cục và thú vị hơn. Một số trường mạnh về kĩ thuật (như MIT, Purdue) có tỉ lệ ứng viên từ ngành tự nhiên cao, Yale thích tuyển chọn các ứng viên từ các tổ chức phi lợi nhuận, trong khi Stanford lại có tiêu chí tuyển chọn sinh viên rất đa dạng. Nếu bạn có một nền kiến thức (back-ground) độc đáo, cơ hội của bạn trúng tuyển sẽ cao hơn.

Một số trường bắt buộc ứng viên có hai năm trước khi nhập học, trong khi đa số các trường top không nhấn mạnh đến thời gian. Một số trường như Wharton (University of Pennsylvenia) hay Stern (New York University) đánh giá rất cao kinh nghiệm làm việc. Độ tuổi trung bình của các sinh viên MBA là khoảng 27-28. Và lưu ý rằng, đối với kinh nghiệm làm việc thì chất lượng quan trọng hơn số lượng rất nhiều. Nếu bạn chỉ có 1-2 năm kinh nghiệm nhưng đó là những trải nghiệm thú vị hoặc là những công việc quản lí đòi hỏi trách nhiệm và năng lực thì rõ ràng sẽ hơn những người có 4-5 năm kinh nghiệm nhàm chán ở những cơ quan nhà nước.

Gần đây các trường lớn như Havard hay Stanford bắt đầu tuyển một phần nhỏ những sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học, chưa có kinh nghiệm làm việc. Nhưng đó bắt buộc phải là những sinh viên cực kì xuất sắc và có tiềm năng lãnh đạo cao từ khi còn học Đại học. Đối với sinh viên quốc tế, nếu bạn có ít kinh nghiệm làm việc thì việc nộp đơn MBA tại Mỹ sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

• Điểm GMAT

Điểm GMAT quan trọng vì nó là một tiêu chí trong bảng xếp hạng các trường kinh doanh. Hơn nữa, GMAT là một kì thi chuẩn cho tất cả mọi người, nên nó được dùng để đánh giá khả năng học tập của ứng cử viên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng điểm GMAT cao không bảo đảm là bạn sẽ được nhận (có nhiều người với điểm GMAT hoàn hảo 800 đã bị từ chối), nhưng một điểm GMAT thấp chắc chắn sẽ loại bạn ngay từ vòng tuyển chọn đầu tiên.

Một điều nữa cần nhấn mạnh về GMAT là sinh viên Việt Nam nói riêng và sinh viên Châu Á nói chung rất mạnh về kĩ năng tính toán (quantitative), nhưng thường yếu về kĩ năng ngôn ngữ (Verbal). Nên nếu bạn có điểm ngôn ngữ và viết luận cao sẽ gây dễ tạo được cảm tình của phòng tuyển sinh.

• Phỏng vấn

Đa số các trường đòi hỏi được phỏng vấn ứng cử viên như một phần bắt buộc trong quy trình nộp đơn, trong khi một số trường khác không bắt buộc nhưng nhấn mạnh rằng phỏng vấn sẽ là một cơ hội rất tốt để bộ phận tuyển sinh có điều kiện tiếp xúc và đánh giá trực tiếp ứng viên. Đối với sinh viên quốc tế, các trường sẽ đề nghị phỏng vấn bằng lực lượng cựu sinh viên tại nước đó, hoặc phỏng vấn qua điện thoại. Quy trình phỏng vấn là rất quan trọng, vì người phỏng vấn (có thể là một hoặc hai người) sẽ đánh giá bạn từ cách ăn mặc, sự tự tin, sự chuyên nghiệp trong giao tiếp, cũng như những kiến thức thực tế. Đa số những người phỏng vấn đều có các bằng cấp về quản trị nhân sự, nên các câu hỏi thường đơn giản nhưng bao quát và có thể đánh giá được ứng viên.

• Điểm trung bình (GPA) và Toefl

Điểm trung bình đại học (hoặc sau đại học) là một tiêu chí để đánh giá khả năng học vấn, nhưng thường là không quan trọng, vì rất khó để đánh giá một người có GPA 3.0 ở một trường có đòi hỏi cao như Cal-tech với một người đạt 3.8 ở một trường công của tiểu bang hay một trường tư nhỏ. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá còn khó khăn hơn nhiều. Do đó, các trường thường đề nghị bạn cung cấp bảng xếp hạng (bạn ở top bao nhiêu phần trăm trong lớp), hoặc chỉ cần bạn nằm ở một khung GPA nhất định là được (thường là từ 3.0, tương đương khoảng B hoặc 7.0 trở lên đối với thang điểm Đại học Việt Nam).

Bạn không nhất thiết phải có bằng cử nhân kinh doanh để học MBA. Chương trình MBA chấp nhận bất cứ bằng cấp đại học nào. Tuy nhiên, những năm gần đây, số người có bằng kĩ sư tin học nộp đơn xin học MBA rất nhiều và thường có điểm GMAT cao, nên nếu bạn học tin học, có thể bạn sẽ hơi khó khăn hơn một chút khi nộp đơn học MBA.

Dĩ nhiên, nếu bạn là Sinh viên quốc tế từ một nước không sử dụng Tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất thì bạn phải thi Toefl. Nhưng Toefl hoàn toàn không đóng vai trò quan trọng trong việc tuyển chọn. Chỉ cần bạn đạt được đủ điểm cần thiết (thường là 600 đối với kì thi trên giấy, 250 đối với trên máy tính hoặc 100 đối với kì thi iBT)

• Hoạt động xã hội

Hoạt động xã hội và các hoạt động từ thiện được các trường đánh giá như là sự quan tâm và đóng góp cho xã hội của ứng viên, cũng như tiềm năng lãnh đạo của ứng viên từ khi còn học Đại học. Điều kiện này đặc biệt quan trọng khi bạn là sinh viên mới ra trường hoặc có ít kinh nghiệm làm việc. Havard, Stanford thường nhấn mạnh đến tiêu chí này.

(xem tiếp phần 2: Quy trình nộp đơn MBA ở Mỹ)
• del.icio.us

• digg

• Facebook

• ma.gnolia

• reddit

• Slashdot
Kết thúc HK IDevice Manager - Snap In Creation Failed
Comments

Quy trình nộp đơn MBA cho các trường ở Mỹ

• Quy trình và một số kinh nghiệm khi nộp đơn

Hạn nộp đơn của các trường thường có 3 đến 4 vòng (round), kéo dài bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Kết quả sẽ được thông báo cho bạn chậm nhất vào cuối mỗi vòng và sẽ sớm hơn nhiều nếu hồ sơ bạn rất mạnh (được nhận ngay) hoặc rất yếu (bị loại ngay). Kinh nghiệm cho thấy bạn nộp đơn càng sớm, khả năng được nhận (và được học bổng) càng cao. Đối với sinh viên quốc tế, vòng 2 thường là vòng cuối cùng để bạn nộp đơn. Vòng 3 trở đi thường cạnh tranh rất gay gắt do số chỉ tiêu tuyển sinh còn lại không nhiều, và bạn bị so sánh với tất cả ứng cử viên đã được nhận, cũng như phải cạnh tranh với số ứng viên trong hàng đợi.


Một số trường như Columbia hay Texas at Austin sử dụng “rolling admission”, nghĩa là bạn nộp đơn bất cứ khi nào trong hạn nộp đơn thì sẽ được biết ngay sau khi có kết quả chứ không đợi đến hết một vòng. Kết quả thường có sau khoảng từ 8 đến 12 tuần.

Các trường thường bắt buộc bạn nộp hồ sơ online thông qua internet và cũng đề nghị người giới thiệu bạn viết thư giới thiệu online. Lệ phí nộp đơn rất khác nhau giữa các trường, dao động từ 50 USD (các trường công như Purdue) cho đến hơn 200 USD (Stanford).

Tùy theo độ mạnh của hồ sơ của bạn, kết quả có thể là được nhận kèm học bổng, được nhận, xếp vào hàng chờ (waitlist) hoặc bị từ chối. Nếu bạn được xếp vào hàng chờ nghĩa là hồ sơ của bạn tương đối yếu hơn so với những người được nhận ở vòng đó, nhưng các trường vẫn muốn giữ hồ sơ của bạn lại để so sánh bạn với các ứng cử viên của vòng sau.

Các ứng cử viên từ Ấn Độ thường có điểm GMAT và GPA rất cao cũng như kinh nghiệm làm việc phong phú, nên nếu chỉ căn cứ vào các con số để tuyển chọn, có lẽ các trường kinh doanh sẽ tràn ngập các sinh viên Ấn Độ. Vì vậy, có một luật bất thành văn là các trường quy định một tỉ lệ nhất định cho các SV đến từ các vùng miền khác nhau (mặc dù các trường ít khi nào thừa nhận điều này). Sinh viên Việt Nam có một lợi thế là ít người Việt Nam học tại các trường kinh doanh, nên có nhiều trường sẽ chấp nhận bạn để tạo thêm sự đa dạng, nhưng cũng có một bất lợi là sẽ dễ dàng bị so sánh với nhánh “ứng viên châu Á”, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ. Do đó, một ứng viên Nam từ châu Á và học IT sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi nộp đơn học MBA) (cũng vì lí do đa dạng này mà các nữ ứng viên thường có lợi thế khi nộp đơn so với nam vì các trường kinh doanh thường có ít sinh viên nữ).

Trong hồ sơ của mình, bạn cần nhấn mạnh đến sự độc đáo cá nhân của mình, cũng như có thể mang sự độc đáo đó đóng góp vào sự đa dạng và phát triển của trường. Có thể bạn đến từ một nền kinh tế đang nổi, bạn có kinh nghiệm làm việc từ những ngành nghề lạ, hoặc có thể nói được vài ngôn ngữ khác nhau v.v… Trước khi nộp đơn, bạn cần tự đánh giá các điểm mạnh yếu của mình, chọn ra một hoặc hai điểm mạnh để phát triển một cách xuyên suốt và nhất quán trong suốt quá trình nộp đơn. Tin tôi đi, khi bạn hoàn thành bản tự đánh giá, bạn sẽ phát hiện ra mình thú vị và có nhiều điểm độc đáo hơn mình tưởng.

• Chọn trường

Tùy vào chuyên ngành bạn thích, bạn có thể căn cứ (một cách tương đối) trên các bảng xếp hạng chuyên ngành để chọn trường (các công ty ở mỗi chuyên ngành thường ưu tiên chọn các trường mạnh về chuyên ngành đó, nên bạn có thể tận dụng được ưu thế đó). Nếu bạn thích tài chính, Wharton, Columbia University , University of Chicago, University of New York hay University of Rochester có thể là điểm đến của bạn. Trường Kellogg của Northwestern University luôn luôn là số 1 thế giới về tiếp thị, theo sau là các trường Duke, Michigan hay Dartmouth. Nếu bạn có sở trường về kĩ năng định lượng hoặc muốn phát triển trong những ngành hệ thống thông tin, quản lí công nghệ, MIT, Carnegie Melon, Texas Austin hay Purdue là những cái tên bạn khó thể bỏ qua. Có nhiều trường nhấn mạnh đến các tiêu chí nhỏ khác, như Yale hấp dẫn đối với những người làm cho các tổ chức phi lợi nhuận, Emory có rất nhiều hoạt động giúp bạn rèn luyện kĩ năng lãnh đạo (leadership) và được xem là hàng đầu về lĩnh vực đó. Nhiều trường mạnh đều ở các lĩnh vực, như Havard hay Stanford, thường được xem như những trường quản trị tổng quát (general managemt) nên dù không xếp đầu ở mỗi chuyên ngành nhưng vẫn là những trường hàng đầu thế giới. Ngược lại, có những trường được xếp rất cao trong một chuyên ngành nhất định như Badson College (thường được xếp nhất về Entrepreneur) hay Thunderbird (rất mạnh trong chuyên ngành kinh doanh quốc tế) nhưng lại không được đánh giá cao bằng (chỉ ở top 50 hoặc 70).

Vị trí địa lí cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc chọn trường. Ở các thành phố lớn, mức sinh hoạt cao hơn hẳn, nhưng bù lại bạn có nhiều cơ hội trong việc mở rộng các quan hệ, thực tập và việc làm (như New York, Boston, Chicago là trung tâm tài chính lớn, nên các trường ở ở vùng đó rất mạnh về tài chính). Vì lí do này, đa số các trường kinh doanh nổi tiếng thường nằm ở những thành phố lớn. Ngược lại, các trường ở những thành phố nhỏ có mức sống rẻ và yên bình có thể giúp bạn tập trung vào việc học. Theo ý kiến của tôi, bạn nên chọn các trường ở những thành phố lớn. Nếu không, cần chọn những trường nổi tiếng như Cornell, Darmouth hay Notre Dame ở thành phố nhỏ để tìm việc làm và cơ hội thực tập cũng tương đối dễ dàng hơn.

Một số trường như trường kinh doanh đại học Havard, Đại học Virginia chỉ sử dụng phương pháp “Case Study”, đem những ví dụ thực tế để phân tích, từ đó rút ra những bài học cụ thể. Ở những trường khác, thường áp dụng một tỉ lệ nhất định giữa Case Study, bài giảng (lectures) và các đồ án thực tế (project based). Vì vậy, bạn có thể chọn lựa trường dựa trên phương pháp giảng dạy mà bạn thích hợp nhất.

Các bảng xếp hạng là một chỉ tiêu để các bạn tham khảo. Vì mỗi bảng xếp hạng có những tiêu chí khác nhau nên vị trí của các trường cũng hơi thay đổi trong mỗi bảng xếp hạng. Có khoảng 30 trường thường xuất hiện đầu ở bất bảng xếp hạng nào, và chất lượng của những trường top 30 này tương đối vượt trội hơn so với các trường khác. Cũng cần lưu ý trong các trường top này, có những trường rất đông sinh viên như Havard gần 2000, Wharton khoảng 1800, nhưng cũng có trường có số sinh viên nhỏ hơn rất nhiều Yale khoảng 300, Emory khoảng 150 cho mỗi khóa học.

Các trường như Havard, Stanford hay Wharton nổi tiếng trên toàn thế giới và việc xin học cực kì khó khăn, nên muốn được nhận bạn phải có hồ sơ cực mạnh. Việc nộp hồ sơ vào các trường trong top 30 đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, nên bạn cần tính toán thật kĩ chiến lược của mình. Thông thường, bạn nên chọn khoảng 2 trường dự phòng mà bạn nắm nhiều khả năng được nhận, 2-3 mà bạn “có thể” được nhận, và khoảng 1-2 trường top để thử sức. Tuy nhiên cần chú trọng đến chất lượng của mỗi hồ sơ hơn là chạy theo số lượng, để đảm bảo mỗi hồ sơ bạn gửi đi đều được hoàn hảo nhất có thể.

Học bổng MBA thường được dành cho những ứng viên mạnh. Một cách tổng quát, các trường tư (private), đặc biệt là các trường “giàu”, thường cho học bổng rộng rãi và chấp nhận nhiều sinh viên quốc tế hơn các trường công (public). Điều thú vị là các trường không thuộc top 10 sẽ có xu hướng cấp học bổng nhiều hơn để thu hút sinh viên giỏi. Do đó, nếu học bổng là một nhân tố quan trọng khi bạn học MBA, hãy chú ý đến những trường này. Nếu bạn được chấp nhận vào học tại những trường nổi tiếng, bạn sẽ được bảo đảm khả năng mượn tiền để học (student loan) với lãi suất thấp và sẽ trả dần sau khi bạn đi làm.

Một cách xếp hạng rất hay là chia các trường ra theo từng nhóm (cluster) của diễn đàn GMATClub.com. Các trường ở top 30 có thể được chia thành nhóm như sau (Theo tên, không xếp hạng trong từng nhóm)

- Ultra Elite: Gồm những trường kinh doanh hàng đầu thế giới và cũng thường đứng đầu trong những lĩnh vực quan trọng như Tài chính, tiếp thị hoặc quản trị: Havard, Stanford, Wharton, Northwestern, MIT, Columbia, Chicago.

- Elite: Gồm những trường kế tiếp, nổi tiếng thế giới và khắt khe trong việc tuyển sinh: Darmouth, Duke, Michigan, UC Berkeley, UCLA, University of Virginia và New York University.

- Trans-elite: gồm những trường top, có danh tiếng trên khắp nước Mỹ, có sĩ số nhỏ, thường đứng đầu ở những lĩnh vực nhất định và có nhiều có thể sánh ngang với nhóm Elite trong nhiều mặt: Carnegie Melon, Emory, University of Texas at Austin, University of Southern California, và University of North Carolina.

- Near Elite: là những trường kinh doanh nằm trong các đại học lớn và nổi tiếng, có ưu thế trong từng lĩnh vực riêng: Rochester, Notre Dame, Georgetown, Purdue, Washington University at St.Louis, Vanderbilt, Marryland và Iniana University.

• GMAT và TOEFL

GMAT và TOEFL thường là rào cản của các bạn sinh viên Việt Nam khi muốn học MBA.Có nhiều bạn hỏi “có trường nào không cần GMAT?”, “trường nào không cần TOEFL?”.

Câu trả lời là có, có hết. Với hơn ba ngàn đại học ở Mỹ, thượng vàng hạ cám gì cũng có. Tuy nhiên, các trường không cần GMAT (hoặc chỉ cần một điểm rất thấp), không cần Toefl thường là những trường không được kiểm định, chất lượng rất thấp. Và cũng chẳng có nhà tuyển dụng nào quan tâm đến bằng MBA từ những trường như vậy. Nên bạn đừng đặt mục đích chỉ là được đi du học, có tấm bằng MBA để có thêm một dòng ghi trong hồ sơ, vì bạn sẽ tốn thời gian hai năm và tiền bạc một cách vô ích. Bạn cần suy nghĩ thật kĩ : "Tại sao bạn lại muốn học MBA? Bạn muốn làm gì trong tương lai". Nếu đã xác định được MBA là cần thiết để đạt được mục tiêu thì hãy thi GMAT và nhắm đến những trường top để xứng đáng công công sức bỏ ra. Đừng cố đi tắt bằng cách kiếm những trường không đòi GMAT, TOEFL.

Ở những trường nổi tiếng, bạn được học từ những giảng viên là những nhà khoa học hàng đầu, được học cùng những người bạn thú vị có thể chia xẻ với bạn kinh nghiệm cá nhân và thảo luận những vấn đề trong lớp từ nhiều khía cạnh khác nhau, được thực hiện các đồ án gắn liền với các công ty lớn, và các hoạt động hỗ trợ giúp bạn nâng cao kĩ năng. Bạn sẽ có điều kiện sử dụng các tiện ích như cơ sở vật chất hiện đại, phòng việc làm (career center), mạng lưới cựu sinh viên (alumni) , mở rộng những mối quan hệ rất có ích cho bạn trong tương lai, cũng như rất nhiều tiện ích khác nữa mà bạn khó có thể tìm thấy ở những trường nhỏ.___http://nhaquantri.blogspot.com

20 thg 4, 2009

Để trở thành nhà quản trị giỏi -tố chất hay học hỏi ?

Các nhà quản lý mới được bổ nhiệm đều buộc phải cam kết tự trau dồi kiến thức suốt cả cuộc đời. Bài viết dưới đây được trích từ bản mới nhất của cuốn sách “Trở thành một nhà quản lý” do giáo sư Linda A. Hill’s – khoa QTKD trường ĐH Havard viết.
sách của Linda viết về một ngôi sao trong lĩnh vực nghệ thuật trở thành một người quản lý: "Becoming a Manager: Mastery of a New Identity" xuất hiện cách đây một thập kỷ đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Nhiều vấn đề trong cuốn sách này hiện nay vẫn còn được xem như rất mới mẻ. Nhưng trong lần xuất bản mới đây, cuốn Becoming a Manager: How new managers master the challenges of leadership được bổ sung thêm một số chương và mang tính chỉ dẫn cụ thể hơn khi phản ánh một thế giới toàn cầu hoá với những thay đổi nhanh chóng và ngày một phức tạp. Bài viết dưới đây nói về tầm quan trọng của việc lựa chọn sự nghiệp khôn khéo và tự đánh giá bản thân để các nhà quản lý trẻ tiếp tục phát triển sự nghiệp của mình.
Qua những nghiên cứu cũng như quá trình giảng dạy và tư vấn trong suốt mười năm qua, tôi đã hiểu sâu sắc hơn bao giờ hết rằng những nhà quản lý giỏi là những người có lòng ham học hỏi và sẵn sàng tự trau dồi bản thân. Quản lý là một công việc phức tạp: thậm chí cả những người có năng khiếu bẩm sinh cũng cần phải tự học hỏi suốt đời và tự trau dồi. Trong quá trình công tác của mình, tôi có cơ hội bổ sung thêm các tài liệu giảng dạy về những nhà lãnh đạo có kinh nghiệm và sự nghiệp của họ. Chương này được xây dựng trên những câu chuyện về một số nhà quản lý tài năng mà tôi đã gặp, tại đó họ tạo ra sự khác biệt trong tổ chức của họ. Chúng ta có thể gián tiếp học hỏi từ những kinh nghiệm của họ.

Xem xét ví dụ về một nữ doanh nhân đã trải qua một sự chuyển đổi lớn trong sự nghiệp của mình chỉ trong bốn năm kể từ khi bắt đầu trở thành một nhà quản lý. Khi chuẩn bị trở thành phó chủ tịch phụ trách marketing của hệ thống cửa hàng cung cấp đồ dùng văn phòng trên toàn quốc, bà nhớ lại: “Tôi không phải là một ví dụ điển hình trong việc gây dựng sự nghiệp. Tôi chỉ sẵn sàng nắm bắt một số cơ hội mà người khác coi đó là những việc làm gây hại cho sự nghiệp của mình. Tôi tự chứng minh bản thân mình trong một vài lĩnh vực khác nhau. Tôi chỉ kết hợp giữa kinh nghiệm và kiến thức của mình và tôi thích được làm việc trong một môi trường nhiều áp lực. Theo cách nhìn nhận của riêng mình, đây là một công việc lớn nhất mà tôi có. Nó yêu cầu tôi phải học cách giải quyết công việc với cấp cao nhất trong tổ chức và bao quát toàn bộ các vấn đề.”

Nhà quản lý này rất khiêm tốn. Bà là một hình mẫu tuyệt vời trong việc quản lý sự nghiệp của mình như thế nào nếu chúng ta mong muốn tiến tới một vị trí quản lý quan trọng. Từ câu chuyện của bà, chúng ta thấy rằng công việc lãnh đạo thật nhiều thú vị nhưng đồng thời cũng là một quá trình tự thân phát triển hết sức khó khăn gian khổ. Trong khoảng thời gian 1 năm đầu tiên tại công ty, bà đã thực hiện hàng loạt biện pháp đòi hỏi phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khó khăn trên rất nhiều lĩnh vực.

Khi trở thành giám đốc phụ trách hoạt động khu vực tại New England, bà chịu trách nhiệm về vấn đề lỗ lãi cho 50 cửa hàng đang hoạt động yếu kém. Thuê được một đội ngũ giúp việc tốt từ những thông báo tuyển dụng trực tiếp, bà đã thiết lập lại tiêu chuẩn cửa hàng, xây dựng các chương trình đào tạo và xốc lại hình hoạt động của các cửa hàng. Do thành công, 2 năm tiếp theo, bà lại nhận thêm hai nhiệm vụ khác đầy thách thức. Đầu tiên, bà trở thành giám đốc phụ trách bán hàng của 150 cửa hàng tại bờ biển phía đông, và sau đó một năm, và trở thành phó chủ tịch kiêm giám đốc phụ trách bộ phận kinh doanh đồ gỗ và trang trí nội thất. Tại đó, bà chịu trách nhiệm về số vốn 350 triệu đô la và 12 nhân viên kèm theo danh mục các mặt hàng cung ứng nghèo nàn, doanh thu gần như không có và khả năng sinh lợi từ các mặt hàng thấp. Bà và đội ngũ làm việc của mình đã tạo ra doanh thu trong số 75% danh mục mặt hàng, tăng gấp 3 lần lợi nhuận ròng và tăng doanh số bán ra. Khi được thăng chức, bà trở lại bộ phận marketing trong vai trò một phó giám đốc cao cấp phụ trách marketing bán lẻ. Ba năm sau đó, do những thành tích của mình, bà được bổ nhiệm làm giám đốc phụ trách kinh doanh qua mạng, một mảng chiến lược cho những thành công trong tương lai của công ty.

Nhà quản lý này cũng như một số nhà lãnh đạo xuất sắc khác mà tôi đã từng nghiên cứu, là một học viên sẵn sàng tự làm mới mình trong các lĩnh vực khác nhau. Trong những trang tiếp theo, tôi sẽ trình bày bốn thách thức lớn khi tạo dựng sự nghiệp. Đó là: chọn lựa đúng vị trí, khởi đầu sự nghiệp đúng điểm xuất phát; thực hiện hàng loạt nhiệm vụ và xây dựng một mạng lưới các mối quan hệ phát triển. Khi xác định từng thách thức từ quan điểm của một nhà lãnh đạo mới, tôi mong được nhấn mạnh lại niềm tin của tôi rằng, quản lý đặc biệt là trách nhiệm lãnh đạo, không phải quá khó khăn. Thay vào đó, các nhà quản lý những người muốn được gánh những trách nhiệm ngày càng lớn hơn trong sự nghiệp của họ, đều phải tự hỏi: Có phải tôi đang tự chuẩn bị để làm lãnh đạo và quản lý?


Chúng ta có thể học làm lãnh đạo và quản lý như thế nào?
Mặc dù một số phẩm chất để làm quản lý giỏi là do bẩm sinh mà có hoặc thu được phần lớn qua quá trình rèn luyện trước khi làm việc (tính trung thực, nhiệt tình, có tham vọng làm lãnh đạo) nhưng rất nhiều vấn đề trong công việc quản lý phải được học. Quản lý trước tiên được học từ những kinh nghiệm trong công việc - bằng làm việc, quan sát, và tác động tương hỗ với những người khác. Chúng ta nhận thấy rằng, bản chất của sự phát triển là tính đa dạng và đầy khó khăn. Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng trên cương vị lãnh đạo đã kết luận rằng đây là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo. Tuy nhiên, theo như những gì đã quan sát, nhiều người lại không thường xuyên học hỏi từ kinh nghiệm bản thân. Để thực sự tìm ra ý nghĩa từ kinh nghiệm của mình, các nhà quản lý cần phải nghiền ngẫm rất kỹ những bài học kinh nghiệm đó. Để thay đổi và phát triển, họ phải được chuẩn bị tốt để thường xuyên đánh giá bản thân - thu thập thông tin phản hồi và phân tích hành vi ứng xử, thái độ và giá trị của họ. Tuy vậy, vấn đề khó khăn để giữ được tính khách quan khi đánh giá bản thân đã được trình bày rõ ràng trong các tài liệu. Có nhiều cách để mọi người tự đánh giá bản thân họ một cách trung thực. Người quản lý càng thu thập được nhiều thông tin phản hồi trung thực từ nhiều nguồn khác nhau thì họ càng đánh giá chính xác và đúng đắn bản thân mình hơn.

Trên thực tế, mọi người cảm thấy gần như không thể tự phát huy khả năng bản thân. Để trưởng thành và phát huy bản thân, các cá nhân cần phải sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp từ bên ngoài. Họ phải dành thời gian và công sức để xây dựng một mạng luới các mối quan hệ phát triển (các nhà quản lý cấp cao trong hoặc ngoài tổ chức). Từ những mối quan hệ này (ví dụ như các cố vấn hoặc người tài trợ), các nhà quản lý trong tương lai có thể học từ kinh nghiệm bản thân mình do nhận được các thông tin phản hồi, những lời khuyên và sự hỗ trợ về mặt tinh thần. Những mối quan hệ như vậy chỉ có ích khi các nhà quản lý sẵn lòng chấp nhận mạo hiểm, tiết lộ một vài khuyết điểm của mình và sẵn sàng nghe những lời phê bình mang tính xây dựng.


Chọn lựa đúng vị trí
Xây dựng sự nghiệp quản lý bắt đầu với việc lựa chọn đúng vị trí của mình. Các nhà quản lý cần xem xét 2 nhân tố sau đây khi ra quyết định nên theo đuổi cơ hội nghề nghiệp nào: sự phù hợp giữa họ với vị trí họ theo đuổi (và tổ chức họ muốn làm việc) và sự phù hợp giữa bản thân họ hiện tại với hình mẫu họ muốn trở thành. Điều đó có nghĩa là, vị trí này sẽ mang lại cơ hội học tập nào cho họ. Khi sự phù hợp đó là “hoàn hảo” – có nghĩa là nhà quản lý có đủ tài năng và tố chất (giá trị cá nhân phù hợp với văn hoá doanh nghiệp) để làm việc - người quản lý sẽ được đặt vào một vị trí tốt hơn để đóng góp ngay vào hoạt động của tổ chức.

Cũng phải thừa nhận là “sự phù hợp” là một nhận định mang tính chủ quan, và có quá nhiều phụ nữ hay những người ở phe thiểu số bị loại ra ngoài chỉ vì những người khác cho rằng họ không phù hợp. Một cách mà mọi người dùng để đối phó với thực tế này là che giấu con người thật cũng như suy nghĩ thật của mình cho đến khi họ thực sự có được vị trí mong muốn. Điều này có thể là một thủ thuật nguy hiểm. Nếu giá trị cá nhân thực sự không phù hợp với tổ chức thì sẽ cần rất nhiều thoả hiệp giữa các bên. Ngoài ra, rất khó để trở thành lãnh đạo đáng tin cậy trong khi những hành động của họ lại không thật.

Tuy nhiên theo quan điểm phát triển thì những nhiệm vụ mang lại nhiều lợi ích nhất lại là những nhiệm vụ trong đó không cần có sự phù hợp hoàn toàn – đó là một sự “cố gắng tối đa” (về khía cạnh khả năng chứ không phải về khía cạnh giá trị). Những nhiệm vụ này có tính rủi ro cao hơn do nhà quản lý dường như dễ mắc những sai lầm gây trở ngại cho con đường sự nghiệp hoặc có tác động tiêu cực tình hình hoạt động của tổ chức. Nhưng từ những nhiệm vụ khó khăn này, các nhà quản lý có thể thu được những kiến thức, kỹ năng, quan điểm và óc phán đoán mới.

Mọi người nên tìm kiếm những công việc mà nhờ đó họ có thể chuyển từ sự phù hợp lúc ban đầu trở thành một chu trình tự củng cố cho thành công mà theo đó năm này qua năm khác, họ tiếp nhận thêm nhiều nguồn lực cần thiết để làm việc hiệu quả hơn và thành công hơn. Họ nên theo đuổi những công việc trong đó mặt mạnh của họ thực sự cần đến còn những điểm yếu của họ có thể được hạn chế, và giá trị cốt lõi của họ phù hợp với giá trị cốt lõi của tổ chức; nói cách khác, không cần quá nhiều “nỗ lực tối đa” và rủi ro cũng không quá lớn. Rủi ro nên tương xứng với khả năng ứng phó của từng cá nhân và kiểm soát nó một cách hợp lý (vì lợi ích của cá nhân lẫn tổ chức). Theo kinh nghiệm, rủi ro có thể là quá nhiều nếu mất tới hơn sáu tháng để có thể nhận được kết quả cho một công việc cụ thể.

Mọi người nên tìm kiếm những kinh nghiệm đa dạng để phát triển sự nghiệp của họ trong các lĩnh vực được thuận tiện dễ dàng hơn. Đây chính là những điều mà nhà nữ quản lý đã đề cập đến trong phần đầu của chương này; bà đã làm qua tất cả các công việc như điều hành, quản lý bán hàng, cung tiêu sản phẩm và marketing. Những người có thể phát huy điểm mạnh và tài năng của mình xa hơn nữa dường như có thể phát triển sự nghiệp nhiều hơn do họ có những khả năng cần thiết để đáp ứng được những yêu cầu luôn luôn thay đổi trong công việc. Về mặt này, những nghiên cứu so sánh giữa những nhà quản lý có tiềm năng lớn nhưng sau đó không thể phát huy được ưu thế của mình với những người quản lý có tiềm năng và trở thành giám đốc cấp cao đang được làm rõ. Một đặc điểm mà những người bị chệch đường đó là những điểm mạnh ban đầu của họ sau này đã trở thành “những điểm yếu chết người”. Khi đối mặt với những thách thức mới và khác biệt, những người này vẫn tiếp tục dựa vào khả năng ban đầu của họ cho dù những khả năng đó không còn phù hợp nữa. Họ không thể và không muốn bổ sung thêm những kỹ năng mới.

Đặc biệt về mặt phát huy khả năng lãnh đạo, thật có lợi khi tìm kiếm những nhiệm vụ phù hợp có liên quan đến sự thay đổi trong tổ chức. Ví dụ như giới thiệu sản phẩn hoặc hệ thống công nghệ thông tin mới, đem lại sức sống mới cho một doanh nghiệp đã già nua hoặc thành lập một công ty con trên thị trường quốc tế. Những nhiệm vụ này yêu cầu các cá nhân phải đề ra phương hướng, thảo luận phương hướng đó (chiến lược và tầm nhìn) với các nhà đầu tư và tìm ra cách để khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện chiến lược đó. Sự thay đổi diễn ra càng triệt để bao nhiêu thì các cơ hội học tập càng lớn.


Khởi đầu sự nghiệp đúng điểm xuất phát
Các nhà quản lý phải nhận thức được những điểm mạnh, những hạn chế cũng như động lực và giá trị của họ để có được sự cân bằng hợp lý giữa sự phù hợp và và cơ hội học tập khi chọn một vị trí công việc. Tuy nhiên, họ chỉ có thể nhận thức được họ là ai và họ muốn trở thành người như thế nào thông qua kinh nghiệm. Do họ tích luỹ kinh nghiệm làm việc, họ có cơ hội để lựa chọn, thử nghiệm những lựa chọn đó và bắt đầu tìm ra những gì họ có thế mạnh và những gì quan trọng đối với họ.

Vì vậy, những người bắt đầu sự nghiệp của mình có thể chỉ hiểu rất mơ hồ về tài năng, động lực và giá trị thực sự của họ. Họ thường bắt đầu sự nghiệp với một điểm xuất phát tồi đơn giản là do lựa chọn công việc và tổ chức không phù hợp với khả năng, động lực và giá trị của họ. Do họ không rõ họ là ai và công việc nào phù hợp với họ nhất nên họ thường bị cám dỗ bởi tiền bạc, danh vọng đi kèm với công việc được đưa ra. Một số người định nghĩa cơ hội “tốt” có nghĩa là những cơ hội phổ biến trong xã hội trong đó họ phát huy được sở trường của họ. Những người này cuối cùng nhận lấy công việc là do những công việc này là sự lựa chọn phổ biến chứ không phải là do họ bị cuốn hút bởi những con người họ cùng làm việc hay các sản phẩm dịch vụ mà họ thực hiện.

Trong một số trường hợp khác, nhiều người lại lựa chọn nghề nghiệp có yêu cầu quá cao đối với họ. Do họ không đánh giá đầy đủ điểm mạnh và điểm yếu, họ tự đưa mình vào tình trạng quá tải. Ví dụ, những người mới tốt nghiệp MBA có thể làm những công việc đòi hỏi trách nhiệm quản lý lớn cùng với khả năng gặp rủi ro khi làm công việc đó. Những người mới tốt nghiệp chuyên ngành nên được cảnh báo trước khi chấp nhận những việc làm trong một môi trường mang tính chính trị hoá nơi mà chỉ có những người với kỹ năng hoàn hảo trong việc giải quyết những mối quan hệ công việc phức tạp mới có thể thành công.

Những người bắt đầu sự nghiệp có thể tìm ra những điểm quan trọng bên trong con người họ qua quá trình tự đánh giá bản thân thật cẩn thận và có hệ thống. Đặc biệt, họ nên tìm kiếm những vấn đề có thể cho họ biết về những điểm mạnh, những hạn chế và giá trị cốt lõi từ những kinh nghiệm quá khứ và hiện tại. Vì dụ, họ nên hỏi những câu hỏi sau đây về công việc nào mà họ cảm thấy hứng thú và có khả năng nhất:

Tôi có thích công việc có tính cộng tác không?
Tôi có định trở thành lãnh đạo những nhóm người mà trong đó tôi thấy phát huy được sở trường của mình không.
Tôi đã từng tự nguyện dẫn dắt và trợ giáo người khác bao giờ chưa
Tôi có cảm thấy hứng thú khi giải quyết những vấn đề hóc búa không
Tôi có đương đầu tốt với áp lực không (ví dụ làm việc kéo dài, ra những quyết định mang tính cá nhân đầy khó khăn…)
Nếu họ không thể trả lời được hầu hết các câu hỏi trên một cách chắc chắn, thì họ không có đủ phẩm chất cá nhân cũng như động lực để trở thành một nhà quản lý giỏi.

Nếu chọn được một công việc phù hợp, họ sẽ có thể đưa những năng lực chung chung của họ thành những kiến thức chuyên môn trong công việc, phát triển các mối quan hệ, và đóng góp cho tổ chức trong thời gian tương đối ngắn. Một khi họ bắt đầu đóng góp cho hoạt động của tổ chức (có thể ban đầu còn nhiều hạn chế), quá trình công tác cũng như uy tín của họ trong tổ chức sẽ dần dần tăng lên. Do đó, những người khác sẽ tìm đến họ và thích làm việc với họ hơn, nói cách khác, mạng lưới các mối quan hệ của họ sẽ được phát triển. Một số người sẵn lòng tài trợ thậm chí cố vấn cho họ, gánh rủi ro dưới danh nghĩa của họ và đưa cho họ những nhiệm vụ đòi hỏi nỗ lực lớn. Từ những nhiệm vụ này, họ lại thu thêm được những kiến thức chuyên môn cũng như có thêm các mối quan hệ và do vậy lại được đặt vào vị trí tốt hơn để đóng góp nhiều hơn cho mục tiêu chủ chốt của tổ chức.

Chẳng mấy chốc, điều đó trở thành một chu trình tự củng cố quyền lực khép kín; con đường sự nghiệp và uy tín của họ trở nên càng lớn. Do họ đạt được nhiều quyền lực và thiết lập mối quan hệ với rất nhiều người, họ lại phát huy sở trường khi nắm giữ những vị trí quan trọng hơn trong mạng lưới các mối quan hệ đó – và nhờ vậy họ lại càng thu được thêm được quyền lực và có ảnh hương lớn. Một khi họ bắt đầu thăng tiến, họ đạt được nhiều quyền hành hơn và có thể củng cố quyền lực của họ.___http://nhaquantri.blogspot.com

Để trở thành người quản lý giỏi

Nhiều người cho rằng, những người quản lý giỏi chuyên môn chưa hẳn đã quản lý tốt. Bởi muốn trở thành một người quản lý giỏi, doanh nhân cần biết tự nâng cao năng lực, kỹ năng quản lý của mình. Sau đây là những điều cần thiết để nâng cao kỹ năng quản lý...
Kiểm tra kiến thức bản thân
Theo các chuyên gia phân tích, trước khi khởi nghiệp, mỗi người cần biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình là gì. Để làm được điều này, doanh nghiệp cần xem lại những gì mình biết và không biết về việc quản lý. Hãy kiểm lại những kinh nghiệm của mình và những người đi trước xem những gì là có lợi và điểm gì phải thay đổi. Điều này sẽ giúp bạn tìm ra những tính cách tốt và xấu từ những ông chủ cũ và tận dụng kiến thức đó cho mình.

Tìm một người cố vấn dày dạn kinh nghiệm
Bạn có thể tìm ngay trong chỗ làm của mình một người quản lý đã có kinh nghiệm, có uy tín, theo dõi học hỏi họ những thói quen, cách xử thế tốt rồi sau đó vận dụng. Bạn cũng có thể học kinh nghiệm từ những người quản lý giỏi ở nơi khác hoặc khi thân tình hơn có thể nhờ họ cố vấn cho mình.


Học lại – Tự đào tạo lại
Đừng bao giờ coi việc học hành của mình đã đủ mà nên thường xuyên học lại. Hiện nay có nhiều tổ chức cung cấp các khóa phát triển kỹ năng quản lý và cũng có nhiều hội thảo xoay quanh vấn đề này, bạn đừng bỏ lỡ những cơ hội để có thể học thêm chúng.


Đọc sách
Ai cũng biết, sách chính là kho tàng vô tận kiến thức của cả thế giới, vì thế bạn cũng có thể tìm hiểu qua sách cách tổ chức quản lý, kỹ năng điêu hành... Tất nhiên ta không nên áp dụng một cách máy móc mà cần biết sử dụng nó trong từng tình huống cụ thể, công việc cụ thể hay quá trình cụ thể.


Học cách lắng nghe và hiểu người khác
Bí quyết để thành công trong vai trò lãnh đạo là biết cách giao tiếp và đánh giá chính xác nhân viên của mình. Đó là phần thách thức nhất trong việc quản lý của nhiều nhà chuyên nghiệp khi ở trong tình thế chuyển từ một người bạn sang vị trí điều khiển. Khi thiết lập mối quan hệ với một tập thể mới, điều quan trọng là phải thẳng thắn và trung thực. Ngoài ra, đánh giá thực tế, khả năng làm việc của nhân viên và nói chuyện với họ về chất lượng công việc cũng cần thiết và phải làm thường (uyên, song tránh nặng nề, quy chụp mặc dù bạn vẫn phải luôn yêu cầu họ làm tốt.


Đặt nhân viên của mình lên trên hết
Một người lãnh đạo tốt là người biết cách đào tạo, hỗ trợ và khích lệ nhân viên mình. Nếu bạn không dành thời gian hỗ trợ nhân viên và bảo đảm đáp ứng nhu cầu hợp lý của họ thì họ khó có thể ủng hộ lần làm tốt mọi việc.

Pich Moore, một chuyên gia cao cấp tại Hiệp hội Quản lý AAMI ở Mỹ, đã nói: "Nhà quản lý hiệu quả nhất là người tiết được tài năng của từng đối tượng và dành thời gian để tìm hiểu nhân viên của mình".___htttp://nhaquantri.blogspot.com

Để trở thành nhà quản trị thành công


Bầu không khí sinh hoạt trong công ty sẽ quyết định sự thành đạt. Không thể phủ nhận vai trò của các lĩnh vực khác như quản trị tài chính, quản trị sản xuất, quản trị hành chính, kế toán,… nhưng rõ ràng quản trị nhân sự đóng vai trò rất quan trong trong mọi doanh nghiệp. Bất cứ cấp quản trị nào cũng phải biết quản trị nhân viên của mình.


Một công ty hay một tổ chức nào dù có nguồn tài chính dồi dào, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không biết quản trị nhân sự. Chính phương thức quản trị nhân sự sẽ tạo ra bộ mặt, bầu không khí vui tươi phấn khởi hay căng thẳng, u ám trong công ty.

Bầu không khí sinh hoạt trong công ty sẽ quyết định sự thành đạt. Không thể phủ nhận vai trò của các lĩnh vực khác như quản trị tài chính, quản trị sản xuất, quản trị hành chính, kế toán,… nhưng rõ ràng quản trị nhân sự đóng vai trò rất quan trong trong mọi doanh nghiệp. Bất cứ cấp quản trị nào cũng phải biết quản trị nhân viên của mình.

Quản trị nhân sự là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội, đạo đức,… Nó là sự trộn lẫn giữa khoa học và nghệ thuật - nghệ thuật quản trị con người.

Công việc quản trị không hề dễ dàng khiến cho vai trò của nhà quản trị trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một nhà quản trị giỏi cần biết phân tích và nắm vững các yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến công tác quản trị nhân sự.

Muốn lãnh đạo nhân viên thành công, muốn nhân viên an tâm nhiệt tình công tác, nhà quản trị phải có những bí quyết riêng. Nghệ thuật quản lý nhân sự dựa trên ba bí quyết đơn giản nhưng rất hiệu quả nhằm tăng năng suất làm việc của nhân viên, tăng lợi nhuận và sự thoả mãn của khách hàng.

Nhân viên làm việc năng suất hơn nếu như họ biết bạn muốn họ làm cái gì, họ được khen ngợi khi làm đúng và bị khiển trách rõ ràng nếu làm việc không tốt, nhưng nhân cách của họ cũng phải được tôn trọng. Những nhà quản trị nhân sự áp dụng những bí quyết này ít bị căng thẳng và dễ đạt được thành công.

1. Xác định mục tiêu

Đây là nền tảng cho mọi thứ khác. Nếu mục tiêu không rõ ràng, thì không thể đánh giá được thành quả công việc của nhân viên. Trong hầu hết các công ty, nhân viên và ban giám đốc có hai mục tiêu khác biệt nhau.

Nếu như ban lãnh đạo và nhân viên không thông tin cho nhau để tìm ra một số mục tiêu chung mà hai bên đều nhất trí, thì sẽ chẳng có bên nào thoả mãn, thậm chí lại gây phiền toái cho nhau.

Nếu như bạn hỏi các nhân viên là họ có làm việc tốt hay không, thì câu trả lời thông thường nhất sẽ là: “Gần đây, tôi chưa hề bị sếp khiến trách” hoặc “không ai nói động gì tới tôi là tốt rồi”. Để tránh cho nhân viên có thái độ tiêu cực này, bạn phải xác định được mục tiêu rõ ràng. Các nhà quản trị nhân sự khôn khéo nên cho nhân viên biết ngay từ đầu là họ phải làm cái gì.

Để hoàn tất quá trình này, hãy viết các mục tiêu trên một mảnh giấy nhỏ, không quá 250 từ. Tại sao phải viết ra giấy? Để nhân viên và ban lãnh đạo có thể đọc được hàng ngày, xem hành vi của mình có phù hợp với mục tiêu hay không.

2. Khen ngợi

Nhà quản trị nhân sự khôn khéo áp dụng kỹ thuật khen ngợi gồm ba phần cơ bản:

* Khen ngay lập tức - luôn luôn khen nhân viên đúng lúc họ làm tốt. Đừng để dành lời khen đó.

* Khen cụ thể - ai cũng muốn được đối xử tốt nhưng người ta cảm thấy thích nhất khi được nói chính xác là đã làm tốt cái gì.

* Chia sẻ tình cảm – hãy phát biểu cảm nhận của mình – không phải là những gì bạn nghĩ mà là những gì bạn cảm thấy. Tình cảm là yếu tố thân mật hơn những ý nghĩ trong mối quan hệ con người.

Khi mà họ bắt đầu hiểu và thực hiện được gần đúng công việc, hãy khen ngợi nhân viên ngay lúc đầu. Đừng chờ đến khi nhân viên làm thật đúng rồi mới khen. Những việc làm gần đúng sẽ tạo nên một việc làm thật đúng.

Ngoài ra, đừng bao giờ khiển trách hoặc phạt nhân viên khi họ đang tìm tòi, học hỏi cách làm tốt công việc. Khiển trách họ vào lúc đó sẽ làm cho họ chán nản muốn trả đũa và thậm chí làm họ muốn thoát lui.

3. Khiển trách

Sửa chữa những điều sai trái của nhân viên để tạo nên những kết quả tích cực. Có bốn quy tắc để khiển trách hiệu quả:

* Khiển trách ngay: khiển trách ngay khi nhân viên làm sai. Đừng gom các lời khiển trách đó lại rồi “làm một lượt”. Nếu không thì khi khiển trách nhân viên chính bạn có thể sẽ nổi khùng.

* Khiển trách cụ thể: đừng nói chung chung “Anh làm tôi muốn khùng lên…” và khi người bị khiển trách hỏi tại sao thì nhà quản trị nhân sự giỏi luôn nói rõ nguyên nhân để họ có thể sửa đổi.

* Chia sẻ tình cảm: một khi bạn đã giải thích người ta làm sai cái gì thì hãy giải thích bạn cảm thấy thế nào về điều đó - giận, khó chịu, thất vọng hay một cảm giác khác.

* Nói cho người ta biết họ tốt thế nào: giai đoạn cuối có lẽ quan trọng nhất. Hãy chấm dứt lời khiển trách bằng cách nói với nhân viên rằng thái độ mà bạn đang phê phán không phải là thái độ mà bạn thường thấy ở họ và lại càng không phải thái độ mà bạn mong muốn trong tương lai. Hành vi sai trái đó chỉ là hiện tượng nhất thời. Về bản chất, họ là những nhân viên tốt. Có như thế, bạn mới có thể hướng sự chú ý của người bị khiển trách vào những điều họ đã làm sai, chứ không chú ý vào cách bạn đã đối xử với người đó như thế nào.

Trong quá trình công tác, chắc hẳn không có một cấp quản trị nào lại thuận buồm xuôi gió chèo lái nhân viên của mình trong sóng biển yên lặng. Mâu thuẫn giữa các nhân viên với nhau, mâu thuẫn giữa các nhân viên với cấp quản trị, mâu thuẫn giữa nhân viên với chính sách của công ty,.. có thể thường xuyên xuất hiện.

Nhà quản trị phải khôn ngoan, khéo léo giải quyết các vấn đề một cách khoa học nhưng nên uyển chuyển, tránh để xảy ra các cuộc xô xát, đình công hay bãi công. Và tốt nhất vẫn là nhà quản trị biết giao tế nhân sự giỏi, biết thu phục và biết động viên nhân viên để họ làm việc một cách hăng hái, đưa công ty đến đỉnh thành công.

Nhà quản trị và sự kết hợp hài hòa lợi ích của nhân viên


Một công ty hay một tổ chức nào dù có nguồn tài chính dồi dào, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không biết quản trị nhân sự. Chính phương thức quản trị nhân sự sẽ tạo ra bộ mặt, bầu không khí vui tươi phấn khởi hay căng thẳng, u ám trong công ty.

Bầu không khí sinh hoạt trong công ty sẽ quyết định sự thành đạt của bạn. Chúng ta không phủ nhận vai trò của các lĩnh vực khác như quản trị tài chính, quản trị sản xuất, quản trị hành chính, kế toán,… nhưng rõ ràng quản trị nhân sự đóng vai trò rất quan trong trong mọi doanh nghiệp. Bất cứ cấp quản trị nào cũng phải biết quản trị nhân viên của mình.

Quản trị nhân sự là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội, đạo đức,… Nó là sự trộn lẫn giữa khoa học và nghệ thuật - nghệ thuật quản trị con người.

Công việc quản trị không hề dễ dàng khiến cho vai trò của nhà quản trị trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Một nhà quản trị giỏi cần biết phân tích và nắm vững các yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến công tác quản trị nhân sự.

Muốn lãnh đạo nhân viên thành công, muốn nhân viên an tâm nhiệt tình công tác, nhà quản trị phải có những bí quyết riêng. Nghệ thuật quản lý nhân sự dựa trên ba bí quyết đơn giản nhưng rất hiệu quả nhằm tăng năng suất làm việc của nhân viên, tăng lợi nhuận và sự thoả mãn của khách hàng. Nhân viên làm việc năng suất hơn nếu như họ biết bạn muốn họ làm cái gì, họ được khen ngợi khi làm đúng và bị khiển trách rõ ràng nếu làm việc không tốt, nhưng nhân cách của họ cũng phải được tôn trọng. Những nhà quản trị nhân sự áp dụng những bí quyết này ít bị căng thẳng và dễ đạt được thành công.

Bí quyết một: xác định mục tiêu

Bí quyết đầu tiên này là nền tảng cho mọi thứ khác. Nếu mục tiêu không rõ ràng, thì không thể đánh giá được thành quả công việc của nhân viên. Trong hầu hết các công ty, nhân viên và ban giám đốc có hai mục tiêu khác biệt nhau. Nếu như ban lãnh đạo và nhân viên không thông tin cho nhau để tìm ra một số mục tiêu chung mà hai bên đều nhất trí, thì sẽ chẳng có bên nào thoả mãn, thậm chí lại gây phiền toái cho nhau.

Nếu như bạn hỏi các nhân viên là họ có làm việc tốt hay không, thì câu trả lời thông thường nhất sẽ là: “Gần đây, tôi chưa hề bị sếp khiến trách” hoặc “không ai nói động gì tới tôi là tốt rồi”. Để tránh cho nhân viên có thái độ tiêu cực này, bạn phải xác định được mục tiêu rõ ràng. Các nhà quản trị nhân sự khôn khéo nên cho nhân viên biết ngay từ đầu là họ phải làm cái gì.

Để hoàn tất quá trình này, hãy viết các mục tiêu trên một mảnh giấy nhỏ, không quá 250 từ. Tại sao phải viết ra giấy? Để nhân viên và ban lãnh đạo có thể đọc được hàng ngày, xem hành vi của mình có phù hợp với mục tiêu hay không.

Bí quyết hai: khen ngợi

Nhà quản trị nhân sự khôn khéo áp dụng kỹ thuật khen ngợi gồm ba phần cơ bản:


* Khen ngay lập tức - luôn luôn khen nhân viên đúng lúc họ làm tốt. Đừng để dành lời khen đó.
* Khen cụ thể - ai cũng muốn được đối xử tốt nhưng người ta cảm thấy thích nhất khi được nói chính xác là đã làm tốt cái gì.
* Chia sẻ tình cảm – hãy phát biểu cảm nhận của mình – không phải là những gì bạn nghĩ mà là những gì bạn cảm thấy. Tình cảm là yếu tố thân mật hơn những ý nghĩ trong mối quan hệ con người.


Quan trọng là hãy nhớ khen ngợi nhân viên ngay lúc đầu, khi mà họ bắt đầu hiểu và thực hiện được gần đúng công việc. Đừng chờ đến khi nhân viên làm thật đúng rồi mới khen. Những việc làm gần đúng sẽ tạo nên một việc làm thật đúng. Ngoài ra, đừng bao giờ khiển trách hoặc phạt nhân viên khi họ đang tìm tòi, học hỏi cách làm tốt công việc. Khiển trách họ vào lúc đó sẽ làm cho họ chán nản muốn trả đũa và thậm chí làm họ muốn thoát lui.

Bí quyết ba: Khiển trách

Bí quyết thứ ba của nhà quản trị nhân sự giỏi là sửa chữa những điều sai trái của nhân viên để tạo nên những kết quả tích cực. Có bốn quy tắc để khiển trách hiệu quả:


* Khiển trách ngay: khiển trách ngay khi nhân viên làm sai. Đừng gom các lời khiển trách đó lại rồi “làm một lượt”. Nếu không thì khi khiển trách nhân viên chính bạn có thể sẽ nổi khùng.
* Khiển trách cụ thể: đừng nói chung chung “Anh làm tôi muốn khùng lên…” và khi người bị khiển trách hỏi tại sao thì nhà quản trị nhân sự giỏi luôn nói rõ nguyên nhân để họ có thể sửa đổi.
* Chia sẻ tình cảm: một khi bạn đã giải thích người ta làm sai cái gì thì hãy giải thích bạn cảm thấy thế nào về điều đó - giận, khó chịu, thất vọng hay một cảm giác khác.
* Nói cho người ta biết họ tốt thế nào: giai đoạn cuối có lẽ quan trọng nhất. Hãy chấm dứt lời khiển trách bằng cách nói với nhân viên rằng thái độ mà bạn đang phê phán không phải là thái độ mà bạn thường thấy ở họ và lại càng không phải thái độ mà bạn mong muốn trong tương lai. Hành vi sai trái đó chỉ là hiện tượng nhất thời. Về bản chất, họ là những nhân viên tốt. Có như thế, bạn mới có thể hướng sự chú ý của người bị khiển trách vào những điều họ đã làm sai, chứ không chú ý vào cách bạn đã đối xử với người đó như thế nào.


Trong quá trình công tác, chắc hẳn không có một cấp quản trị nào lại thuận buồm xuôi gió chèo lái nhân viên của mình trong sóng biển yên lặng. Mâu thuẫn giữa các nhân viên với nhau, mâu thuẫn giữa các nhân viên với cấp quản trị, mâu thuẫn giữa nhân viên với chính sách của công ty,.. có thể thường xuyên xuất hiện. Nhà quản trị phải khôn ngoan, khéo léo giải quyết các vấn đề một cách khoa học nhưng nên uyển chuyển, tránh để xảy ra các cuộc xô xát, đình công hay bãi công. Và tốt nhất vẫn là nhà quản trị biết giao tế nhân sự giỏi, biết thu phục và biết động viên nhân viên để họ làm việc một cách hăng hái, đưa công ty đến đỉnh thành công.___http://nhaquantri.blogspot.com

16 thg 4, 2009

Nguồn gốc của SCM

SCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistic (hậu cần). Trong tiếng Anh, một điều thú vị là từ Logistics này không hề có liên quan gì đến từ “Logistic” trong toán học. Khi dịch sang tiếng Việt, có người dịch là hậu cần, có người dịch là kho vận, dịch vụ cung ứng. Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó đều chưa thoả đáng, không phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất của Logistics. Vì vậy, tốt hơn cả là chúng ta hãy giữ nguyên thuật ngữ Logistics và sau đó tìm hiểu tường tận ý nghĩa của nó.

Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution)

Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:

- Vận tải,

- Phân phối,

- Bảo quản hàng hoá,

- Quản lý kho bãi,

- Bao bì, nhãn mác, đóng gói.

Giai đoạn 2: Hệ thống

Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.

Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng (SCM)

Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng. Khái niệm SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin.

Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh

Đối với các công ty, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Có không ít công ty đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại, có nhiều công ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc rối, chồng chéo...

Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.

Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khoá thành công cho B2B. Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìa khoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong dây chuyền cung ứng.

Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền cung ứng: thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu và chính quá trình sản xuất; thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.

Trong dây chuyên cung ứng ba nhân tố này, SCM sẽ điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất - những công việc đòi hỏi tính dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Khu vực nhà máy sản xuất trong công ty của bạn phải là một môi trường năng động, trong đó sự vật được chuyển hoá liên tục, đồng thời thông tin cần được cập nhật và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý công ty để cùng đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. SCM cung cấp khả năng trực quan hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây chuyền cung cấp, tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sản xuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp xếp và lên kế hoạch. Nó cũng mang lại hiệu quả tối đa cho việc dự trù số lượng nguyên vật liệu, quản lý nguồn tài nguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp hoạt động sản xuất của công ty.

Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp SCM là phân tích dữ liệu thu thập được và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp. Hoạt động này nhằm phục vụ cho những mục đích liên quan đến hoạt động sản xuất (như dữ liệu về thông tin sản phẩm, dữ liệu về nhu cầu thị trường…) để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng. Có thể nói, SCM là nền tảng của một chương trình cải tiến và quản lý chất lượng - Bạn không thể cải tiến được những gì bạn không thể nhìn thấy.
cayman
12-09-2006, 12:19 AM
Cấu trúc của SCM Một dây chuyền cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu ba yếu tố: nhà cung cấp, bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng.

Nhà cung cấp: là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Thông thường, nhà cung cấp được hiểu là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm, bán thành phẩm. Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi là nhà cung cấp dịch vụ.

- Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Các nghiệp vụ về quản lý sản xuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng.

- Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.

Các thành phần cơ bản của SCM

Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản. Các thành phần này là các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng:

- Sản xuất (Làm gì, như thế nào, khi nào)

- Vận chuyển (Khi nào, vận chuyển như thế nào)

- Tồn kho (Chi phí sản xuất và lưu trữ)

- Định vị (Nơi nào tốt nhất để làm cái gì)

- Thông tin (Cơ sở để ra quyết định)

1. Sản xuất: Sản xuất là khả năng của dây chuyền cung ứng tạo ra và lưu trữ sản phẩm. Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này. Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.

2. Vận chuyển: Đây là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền cung ứng. Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển. Thông thường có 6 phương thức vận chuyển cơ bản

- Đường biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài và bị giới hạn về địa điểm giao nhận.

- Đường sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểm giao nhận.

- Đường bộ: nhanh, thuận tiện.

- Đường hàng không: nhanh, giá thành cao.

- Dạng điện tử: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (chỉ dành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…).

- Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (khi hàng hóa là chất lỏng, chất khí..).

3. Tồn kho: Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào. Chính yếu tố tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty bạn. Nếu tồn kho ít tức là sản phẩm của bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của công ty bạn ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa.

4. Định vị: Bạn tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cung ứng. Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

5. Thông tin: Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của bạn. Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quả chuẩn xác. Ngược lại, nếu thông tin không đúng, hệ thống SCM sẽ không thể phát huy tác dụng. Bạn cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết.

Những bước đi cơ bản khi triển khai SCM

Bạn cần tuân thủ 5 bước đi cơ bản sau đây:

1. Kế hoạch - Đây là bộ phận chiến lược của SCM. Bạn sẽ cần đến một chiến lược chung để quản lý tất cả các nguồn lực nhằm giúp sản phẩm phẩm, dịch vụ của bạn đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Phần quan trọng của việc lập kế hoạch là xây dựng một bộ các phương pháp, cách thức giám sát dây chuyền cung ứng để đảm bảo cho dây chuyền hoạt động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để đưa tới khách hàng.

2. Nguồn cung cấp – Hãy lựa chọn những nhà cung cấp thích hợp để đáp ứng các chủng loại hàng hoá, dịch vụ đầu vào mà bạn cần để làm ra sản phẩm, dịch vụ của bạn. Bạn nên xây dựng một bộ các quy trình định giá, giao nhận và thanh toán với nhà phân phối, cũng như thiết lập các phương pháp giám sát và cải thiện mối quan hệ giữa bạn với họ. Sau đó, bạn hãy tiến hành song song các quy trình này nhằm quản lý nguồn hàng hoá, dịch vụ mà bạn nhận được từ các nhà cung cấp, từ việc nhận hàng, kiểm tra hàng, chuyển chúng tới các cơ sở sản xuất đến việc thanh toán tiền hàng.

3. Sản xuất – Đây là bước đi tiếp theo, sau khi bạn đã có nguồn hàng. Hãy lên lịch trình cụ thể về các hoạt động sản xuất, kiểm tra, đóng gói và chuẩn bị giao nhận. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất của dây chuyền cung ứng, vì thế bạn cần giám sát, đánh giá chặt chẽ các tiêu chuẩn chất lượng của thành phẩm, cũng như hiệu suất làm việc của nhân viên.

4. Giao nhận – Đây là yếu tố mà nhiều người hay gọi là “hậu cần”. Hãy xem xét từng khía cạnh cụ thể bao gồm các đơn đặt hàng, xây dựng mạng lưới cửa hàng phân phối, lựa chọn đơn vị vận tải để đưa sản phẩm của bạn tới khách hàng, đồng thời thiết lập một hệ thống hoá đơn thanh toán hợp lý.

5. Hoàn lại – Đây là công việc chỉ xuất hiện trong trường hợp dây chuyền cung ứng có vấn đề. Nhưng dù sao, bạn cũng cần phải xây dựng một chính sách đón nhận những sản phẩm khiếm khuyết bị khách hàng trả về và trợ giúp khách hàng trong trường hợp có vấn đề rắc rối đối với sản phẩm đã được bàn giao

14 thg 4, 2009

SUPPLY CHAIN: Nghề hấp dẫn mang đến nhiều cơ hội thăng tiến

Mùa đông năm 1812, cuộc chinh phạt nước Nga của Napoleon đã thất bại thảm hại vì lý do “logistics”. Hết lương thực, không chỗ trú chân, thiếu ánh lửa hồng trong mùa đông khắc nghiệt của nước Nga, quân đội của Napoleon không còn cách nào khác là rút chạy.
Còn đối với Alexander Đại đế, hậu cần (logistics) là một mảng vô cùng quan trọng. Với ông “người làm logistics cần biết rằng nếu chiến dịch của tôi thất bại, họ sẽ là người đầu tiên bị xét xử”.
Hai câu chuyện lịch sử này cho ta thấy vai trò tối quan trọng của chuỗi cung ứng (Supply Chain hay “logistics” theo cách hiểu thông thường) đối với 2 vị tướng lừng danh trên dù cụm từ chuỗi cung ứng chưa hề tồn tại vào thời của hai ông. Và ngày nay, chuỗi cung ứng càng thể hiện vai trò quan trọng đối với thành công của các doanh nghiệp.
Chuỗi cung ứng là gì và đóng vai trò ra sao?
“Bạn có biết hành trình mà một đôi giày Nike đã trải qua để đến với người tiêu dùng?”, chị Quyên, Giám Đốc Điều Hành của Supply Chain Council, chia sẻ. “Hành trình đó là sự phối hợp của biết bao khâu, từ nhà cung cấp nguyên vật liệu (vải, keo, chỉ…), các nhà máy gia công may giày trên khắp thế giới, các đơn vị vận chuyển, các cầu cảng nơi giầy Nike được “nhập cảnh”, đoàn xe vận chuyển, máy bay, tiếp đến là các trung tâm phân phối, các cửa hiệu bán sỉ, bán lẻ và cuối cùng mới đến tay bạn, người tiêu dùng. Đó là một chu trình khép kín, hoàn toàn được “can thiệp” bởi chuỗi cung ứng (Supply Chain).
Ví dụ đơn giản này cho ta thấy vai trò cực kỳ quan trọng của chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp. Quản lý chuỗi cung ứng gắn liền với hầu như tất cả các hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, từ việc hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn hàng, thu mua, sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu thô, quản lý hậu cần… đến việc phối hợp với các đối tác, nhà cung ứng, các kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng. Nói chung, quản lý chuỗi cung ứng gồm quản lý cung và cầu trong toàn hệ thống của các doanh nghiệp. Nhờ quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả, những tập đoàn tầm cỡ thế giới như Dell và Wal-Mart đạt được từ 4% - 6% lợi nhuận cao hơn so với đối thủ, một lợi thế cạnh tranh không nhỏ tí nào.
Rõ ràng yếu tố cơ bản để các doanh nghiệp cạnh tranh thành công ngày nay là sở hữu được một chuỗi cung ứng trội hơn hẳn các đối thủ. Nói cách khác quản trị chuỗi cung ứng không còn là một chức năng thông thường của các công ty mà đã trở thành một bộ phận chiến lược của công ty.
Cơ hội phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực chuỗi cung ứng
Chỉ 10 năm trước đây, cụm từ “chuỗi cung ứng” rất hiếm khi được các nhà quản trị sử dụng. Họ thường dùng các cụm từ “logistics” hay “vận tải” để mô tả dòng chảy hàng hoá. Các chức danh như Giám Đốc Logistics, Giám đốc Phân Phối, Giám đốc Vận Tải là những cụm từ ít ỏi mô tả những người làm trong lĩnh vực logistics.
Thế nhưng xu hướng toàn cầu hoá ngày nay, đặc biệt là tiến trình hội nhập với thế giới sau khi gia nhập WTO, đã khiến cho Việt Nam trở thành một trong những ngôi sao sáng về hoạt động chuỗi cung ứng. Trung Quốc đã và đang là chiếc nôi hàng đầu về hoạt động chuỗi cung ứng. Thế nhưng ngày nay vị thế này đang dần chuyển dịch sang Việt Nam vì môi trường kinh doanh ngày càng thông thoáng và chi phí lao động cạnh tranh so với các nước trong khu vực.
Xu hướng kinh doanh toàn cầu hóa càng nâng cao vai trò quan trọng của việc điều hành chuỗi cung ứng. Tại các tập đoàn lớn, những người quản lý chuỗi cung ứng thường báo cáo trực tiếp cho các CEO. Thậm chí các tổng giám đốc (CEO) của các công ty lớn thường xuất thân từ ngành Supply Chain. Điều này chứng tỏ các công ty xem trọng chuỗi cung ứng của mình như thế nào.
Vì vậy chuỗi cung ứng tuy còn là một cụm từ khá mới mẻ ở Việt Nam, lĩnh vực này đang mang đến rất nhiều cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn với nhiều khả năng thăng tiến cho các bạn trẻ.
Anh Phạm Ngọc An, Trưởng phòng cung ứng của Công ty Friesland Foods Dutch Lady Vietnam, chia sẻ về cơ hội nghề nghiệp trong hoạt động chuỗi cung ứng “Bạn có thể phát triển nhiều nghề nghiệp đa dạng trong lĩnh vực quản lý chuỗi cung ứng như trở thành chuyên viên dự báo nguồn hàng, hoạch định và điều phối nguồn nguyên vật liệu, lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho, quản lý dự án, kho bãi, vận chuyển, xuất nhập khẩu, mua hàng…Lĩnh vực này dành cho bạn rất nhiều cơ hội thăng tiến nếu bạn thực sự đam mê và muốn trở thành một nhà hoạch định chiến lược của doanh nghiệp.”
---nhaquantri.blogspot.com

Phầm mềm SCM có nhiệm vụ gì?

Phầm mềm SCM có thể được xem như một bộ các ứng dụng phần mềm phức tạp nhất trên thị trường công nghệ phần mềm. Mỗi một thành phần trong dây chuyền cung ứng trên đây bao gồm hàng tá các nhiệm vụ cụ thể khác nhau, thậm chí có không ít nhiệm vụ đòi hỏi riêng một phần mềm chuyên biệt. Có rất nhiều nhà cung cấp phần mềm lớn đang cố gắng tập hợp nhiều ứng dụng phần mềm nhỏ trong SCM vào một chương trình duy nhất, nhưng hầu như chưa có ai thành công cả. Việc kết hợp nhiều phần mềm nhỏ riêng biệt thành một phần mềm chung xem ra là một “cơn ác mộng” đối với nhiều công ty phần mềm trên thế giới.

Có lẽ cách thức tốt nhất đề thiết lập và cài đặt bộ phần mềm quản lý dây chuyền cung ứng là bạn hãy chia nó ra thành hai phần mềm nhỏ: phần mềm thứ nhất có nhiệm vụ giúp bạn lên kế hoạch cho dây chuyền cung ứng và phần mềm thứ hai giúp bạn theo dõi việc thực thi các nhiệm vụ cụ thể đã vạch ra.

Phần mềm hoạch định dây chuyền cung ứng (Supply chain planning - SCP) sử dụng các thuật toán khác nhau nhằm giúp bạn cải thiện lưu lượng và tính hiệu quả của dây chuyền cung ứng, đồng thời giảm thiểu việc kiểm kê hàng tồn kho. Tính chính xác của SCP hoàn toàn phụ thuộc vào các thông tin mà bạn thu thập được. Ví dụ, nếu bạn là một nhà sản xuất hàng tiêu dùng, đừng mong đợi các ứng dụng phần mềm lên kế hoạch của bạn sẽ hoàn toàn chính xác, nếu bạn không cập nhật cho chúng thông tin chính xác về các đơn đặt hàng từ khách hàng, dữ liệu bán hàng từ những cửa hàng bán lẻ, năng lực sản xuất và năng lực giao nhận… Trên thị trường luôn có sẵn các ứng dụng phần mềm lên kế hoạch cho cả 5 bước chính của dây chuyền cung ứng được liệt kê ở trên, tuy nhiên mọi người thường cho rằng phần mềm cần thiết nhất là phần mềm xử lý công việc xác định nhu cầu thị trường (bởi vì đây là phần phức tạp và dễ sai sót nhất) nhằm trù liệu trước công ty sẽ cần sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm.

Phần mềm thực thi dây chuyền cung ứng (Supply chain execution - SCE) có nhiệm vụ tự động hoá các bước tiếp theo của dây chuyền cung ứng, như việc lưu chuyển tự động các đơn đặt hàng từ nhà máy sản xuất của bạn tới nhà cung cấp nguyên vật liệu, để có được những gì bạn cần cho hoạt động sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ.
cayman
12-09-2006, 12:22 AM
ERP và SCM – thế nào là hợp lý? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên bạn cần làm rõ hai vấn đề: ERP là gì và ERP tác động lên SCM như thế nào?

ERP - Hệ thống hoạch định các nguồn lực của doanh nghiệp (Enterprise resources Planning) là bộ giải pháp công nghệ thông tin có khả năng tích hợp toàn bộ các ứng dụng quản lý sản xuất kinh doanh vào một hệ thống duy nhất nhằm tự động hoá các quy trình quản lý. Với ERP, mọi hoạt động của công ty bạn, từ quản trị nguồn nhân lực, quản lý dây chuyền sản xuất và cung ứng vật tư, quản lý tài chính nội bộ, đến việc bán hàng, tiếp thị sản phẩm, trao đổi với đối tác, khách hàng… đều được thực hiện trên một hệ thống duy nhất. ERP được xem là một giải pháp quản trị doanh nghiệp thành công nhất trên thế giới hiện nay. Nếu triển khai thành công ERP, bạn sẽ có thể tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh và thêm cơ hội để phát triển vững mạnh.

Trong thuật ngữ ERP, hai chữ R và P đã thể hiện hầu như trọn vẹn ý nghĩa của giải pháp quản trị doanh nghiệp mới này.

R: Resource (Tài nguyên). Trong kinh doanh, resource là nguồn lực nói chung bao gồm cả tài chính, nhân lực và công nghệ. Tuy nhiên, trong ERP, resource còn có nghĩa là tài nguyên. Trong giới công nghệ thông tin, tài nguyên là bất kỳ phần mềm, phần cứng hay dữ liệu nào thuộc hệ thống mà bạn có thể truy cập và sử dụng được. Việc ứng dụng ERP vào hoạt động quản trị công ty đòi hỏi bạn phải biến nguồn lực này thành tài nguyên. Cụ thể là bạn phải:

- Làm cho mọi phòng ban đều có khả năng khai thác nguồn lực phục vụ cho công ty.

- Hoạch định và xây dựng lịch trình khai thác nguồn lực của các bộ phận sao cho giữa các bộ phận luôn có sự phối hợp nhịp nhàng.

- Thiết lập các quy trình khai thác đạt hiệu quả cao nhất.

- Luôn cập nhật thông tin một cách chính xác, kịp thời về tình trạng nguồn lực của công ty.

Muốn biến nguồn lực thành tài nguyên, bạn phải trải qua một thời kỳ “lột xác”, nghĩa là cần thay đổi văn hóa kinh doanh cả bên trong và ngoài công ty, đồng thời phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa công ty và nhà tư vấn. Giai đoạn “chuẩn hóa dữ liệu” này sẽ quyết định thành bại của việc triển khai hệ thống ERP và nó cũng chiếm phần lớn chi phí đầu tư cho ERP.

P: Planning (Hoạch định). Planning là khái niệm quen thuộc trong quản trị kinh doanh. Điều cần quan tâm ở đây là hệ ERP hỗ trợ công ty lên kế hoạch ra sao?

Trước hết, ERP tính toán và dự báo các khả năng có thể phát sinh trong quá trình điều hành sản xuất/kinh doanh của công ty. Chẳng hạn, ERP giúp nhà máy tính toán chính xác kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu cho mỗi đơn hàng dựa trên tổng nhu cầu nguyên vật liệu, tiến độ, năng suất, khả năng cung ứng... Cách làm này cho phép công ty luôn có đủ vật tư sản xuất, mà vẫn không để lượng tồn kho quá lớn gây đọng vốn. ERP còn là công cụ hỗ trợ trong việc lên kế hoạch cho các nội dung công việc, nghiệp vụ cần thiết trong quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như hoạch định chính sách giá, chiết khấu, các hình thức mua hàng, hỗ trợ tính toán ra phương án mua nguyên liệu, tính được mô hình sản xuất tối ưu... Đây là biện pháp giúp bạn giảm thiểu sai sót trong các xử lý nghiệp vụ. Hơn nữa, ERP tạo ra mối liên kết văn phòng công ty - đơn vị thành viên, phòng ban - phòng ban và trong nội bộ các phòng ban, hình thành nên các quy trình xử lý nghiệp vụ mà mọi nhân viên trong công ty phải tuân theo.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng hệ thống ERP sẽ cung cấp các công cụ và tạo điều kiện cho các dây chuyền cung ứng (cả đơn giản và phức tạp) thành công. Đến lượt mình, các thành công của SCM sẽ thúc đẩy sự phát triển của quy trình áp dụng ERP.

Trên thế giới hiện nay đang có rất nhiều tập đoàn lớn triển khai và sử dụng trọn gói bộ giải pháp ERP cho hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh trên hai lĩnh vực: Sản xuất chế tạo và Kinh doanh dịch vụ. Thực tế đã chứng minh được rằng, sự phối kết hợp giữa ERP và SCM đem lại cho các công ty năng lực cạnh tranh cao hơn, đồng thời thể hiện rằng đây là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển và đầu tư. Theo các cuộc thăm dò do hãng nghiên cứu thị trường Meta Group tiến hành với sự tham gia của 63 công ty, chi phí trung bình cho một dự án ERP (bao gồm phần mềm, chi phí nhân công, tư vấn và phần cứng) sẽ vào khoảng 15 triệu USD. Mặc dù các dự án ERP phức tạp và có giá trị lớn, nhưng nếu được triển khai phù hợp và khoa học, chúng sẽ đem lại những lợi ích không nhỏ. Cụ thể, nếu được triển khai toàn bộ, một hệ thống ERP có thể giúp công ty tiết kiệm trung bình hàng năm khoảng 1,6 triệu USD. Đối với các nhà quản trị, ERP là công cụ đắc lực để quản lý tập trung toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. ERP còn giúp doanh nghiệp đánh giá khu vực tập trung nhiều khách hàng, đánh giá những loại hình dịch vụ mà khách hàng ưa thích sử dụng… Bên cạnh đó, ERP còn mang lại nhiều lợi ích khác với các tính năng như: phát triển khả năng mua bán, đặt hàng hay đăng ký dịch vụ trực tuyến, điều phối toàn bộ giá cả cho các dự án, theo dõi, quản lý và sử dụng tài sản, xác định quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân tham gia hệ thống....

Hiện ERP vẫn đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và có không ít công ty tuyên bố rằng đang ứng dụng ERP, nhưng thực chất họ chỉ triển khai một hoặc hai thành phần nào đó của ERP. Một công ty có thể mua nhiều giải pháp của các hãng phần mềm khác nhau rồi chắp vá chúng lại một cách lỏng lẻo, gượng ép, liệu có thể khẳng định rằng: “Công ty chúng tôi đang dùng ERP và sẽ áp dụng thành công SCM trên cơ sở này” không? Câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Không”.

Việc có nên triển khai SCM trên cơ sở một hệ thống ERP hiệu quả vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Bạn có thể cần đến ERP, nếu bạn dự định thiết lập các ứng dụng SCP, bởi vì chúng đều dựa trên cùng một loại thông tin được lưu trữ trong phần mềm ERP. Về mặt lý thuyết, bạn có thể cung cấp cho phần mềm SCP những thông tin lấy từ các nguồn khác nhau trong công ty (đối với phần lớn các công ty thì đó là các file excel nằm rải rác tại tất cả các phòng ban). Tuy nhiên, mọi việc sẽ không đơn giản, nếu bạn cố gắng lưu chuyển chúng một cách nhanh chóng và đáng tin cậy từ khắp mọi ngóc ngách trong công ty. Vậy thì ERP chính là một công cụ hữu ích, giúp bạn tích hợp tất cả các thông tin đó vào cùng một ứng dụng đơn lẻ, và phần mềm SCP sẽ có một cơ cấu duy nhất để tiếp nhận các nguồn thông tin được cập nhập liên tục. Đa số các Giám đốc thông tin (Chief Inffomation Officer – CIO) đã từng cài đặt ứng dụng phần mềm SCP đều cảm thấy hài lòng với phần mềm ERP sẵn có. Họ thừa nhận rằng phần mềm ERP sẽ “đưa cả núi thông tin nội bộ vào trật tự ổn định”. Đương nhiên, phần mềm ERP khá đắt và phức tạp, vì vậy bạn có thể muốn tìm ra nhiều cách thức khác để cung cấp cho phần mềm SCP những thông tin cần thiết mà không cần đến phần mềm ERP sẵn có.

Trong khi đó, các ứng dụng phần mềm SCE ít phụ thuộc hơn vào việc thu thập thông tin từ các nơi trong công ty, do đó SCE có khuynh hướng độc lập với phần mềm ERP. Nhưng việc bạn cần là các ứng dụng SCE sẽ tiếp xúc với ERP trong một vài “điểm” nào đó. Ngoài ra, bạn nên chú ý tới năng lực của các ứng dụng SCE sao cho nó có thể tích hợp với Internet, với ERP và với các ứng dụng SCP khác, bởi vì Internet sẽ có tác động rất lớn tới hành vi của khách hàng. Ví dụ, nếu bạn muốn xây dựng một trang web riêng để tiếp xúc với khách hàng và nhà cung cấp, bạn sẽ phải đưa vào đó các dữ liệu có được từ những ứng dụng SCE, SCP và ERP, nhằm giới thiệu những chi tiết mới nhất về đơn đặt hàng, thanh toán, tình trạng sản xuất và giao nhận của công ty bạn.___http://nhaquantri.blogspot.com

Ngành Quản trị kinh doanh

Để tiến hành những hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện làm việc tập thể ( nhóm hay tổ chức ), nhất thiết phải thực hiện quản trị các hoạt động đó. Công việc này được gọi là quản trị kinh doanh
Cụ thể hơn, quản trị kinh doanh là tổng hợp của các quá trình:

- Xác định mục tiêu kinh doanh

- Phối hợp, tổ chức, chỉ huy và điều hành hoạt động để thực hiện mục tiêu kinh doanh đã đề ra

- Kiểm tra, kiểm soát hệ thống tổ chức đã hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Công việc chính của quản trị viên

Mục tiêu chung của quản trị kinh doanh là duy trì và thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành của toàn bộ doanh nghiệp, hướng vào thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Quản trị kinh doanh thực chất là một ngành rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong xã hội. Quản trị kinh doanh có thể được tiếp cận theo ba góc độ chủ yếu:

* Quản trị kinh doanh chung (đa ngành, đa lĩnh vực, đa chức năng)

* Quản trị kinh doanh theo đối tượng (hay còn gọi là theo ngành) trong nền kinh tế như: kinh doanh công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm v.v...

* Quản trị kinh doanh theo chức năng trong doanh nghiệp như: quản trị nhân lực, tài chính, marketing, hậu cần, công nghệ, chất lượng v.v...

Ngoài ra, còn có thể tiếp cận quản trị kinh doanh theo tiến trình quản trị trong doanh nghiệp như: hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm soát v.v...

Trong doanh nghiệp, quản trị kinh doanh được chia làm ba cấp chủ yếu:

* Quản trị viên cấp cao: tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, giám đốc chức năng hay lĩnh vực v.v...

* Quản trị viên cấp trung: trưởng phòng, ban, quản đốc phân xưởng v.v...

* Quản trị viên cấp cơ sở: những quản trị viên còn lại.

Tựu trung lại, công việc chính của quản trị viên là:

- Hoạch định kinh doanh

- Tổ chức kinh doanh

- Tổ chức quản trị kinh doanh

- Lãnh đạo, điều hành kinh doanh

- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh

Điều kiện làm việc và cơ hội nghề nghiệp

Thu nhập cao, môi trường làm việc năng động và cơ hội thăng tiến nhanh là những lý do khiến ngành này đang thu hút nhiều bạn trẻ. Bạn là người say mê kinh doanh, yêu thích các công việc đòi hỏi đầu óc tổ chức, quản lý, bạn có thể nhanh chóng thích nghi với môi trường công việc.

Ngành này có địa bàn hoạt động rộng nên bạn sẽ có cơ hội để đến với nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam cũng như trên thế giới. Thị trường và môi trường kinh doanh luôn thay đổi vừa là thách thức, vừa là niềm vui cho bạn. Công việc không dập khuôn máy móc khiến bạn không cảm thấy nhàm chán.

Chỉ tính riêng trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nước ta có hơn 15 vạn doanh nghiệp. Theo chủ trương của Nhà nước, tới năm 2010, cả nước sẽ có khoảng 50 vạn doanh nghiệp. Nhu cầu về những quản trị viên giỏi, nhạy bén bởi vậy rất lớn.

Đặc biệt, với kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh bài bản được đào tạo, bạn hoàn toàn có thể lập và quản trị công việc kinh doanh của chính mình hoặc doanh nghiệp của gia đình.

Phẩm chất và kỹ năng cần thiết

- Kiến thức tự nhiên và xã hội, kiến thức về kinh doanh vững vàng

- Thành thạo ngoại ngữ và tin học

- Có khát vọng làm giàu chính đáng

- Sáng tạo và đổi mới, tầm nhìn xa trông rộng

- Có năng lực tổ chức và quản lý, tự tin, biết cách khắc phục rủi ro

- Có đạo đức kinh doanh

Một số địa chỉ đào tạo

Ngành Quản trị kinh doanh hiện được đào tạo ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng kinh tế, tài chính... nên bạn dễ dàng tìm được địa chỉ đào tạo phù hợp tại những trường này.
---nhaquantri.blogspot.com

13 thg 4, 2009

Thuật ngữ Supply Chain Management (SCM)

SCM vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty, mặc dù nó đang trở thành “mốt thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại. Người ta bàn về việc thiết lập các giải pháp SCM, mạng lưới SCM, các bộ phần mềm SCM,... nhưng vẫn băn khoăn tự hỏi: Thực chất SCM là gì ? Ứng dụng SCM ra sao?...

Vậy SCM là gì?

SCM là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch vụ đó và phân phối tới các khách hàng. Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào, dù sản xuất hàng hoá hay dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên và mối tương quan giữa chúng trong toàn bộ dây chuyền cung ứng sản xuất.

Về cơ bản, SCM sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt động đầu vào của doanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn kho an toàn của công ty. Trong hoạt động quản trị nguồn cung ứng, SCM cung cấp những giải pháp mà theo đó, các nhà cung cấp và công ty sản xuất sẽ làm việc trong môi trường cộng tác, giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm/dịch vụ tới khách hàng. SCM tích hợp hệ thống cung ứng mở rộng và phát triển một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép công ty của bạn giao dịch trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phương diện mua bán và chia sẻ thông tin.

Các mô hình dây chuyền cung ứng được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp.

Một công ty sản xuất sẽ nằm trong “mô hình đơn giản”, khi họ chỉ mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sau đó tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng. Ở đây, bạn chỉ phải xử lý việc mua nguyên vật liệu rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và tại một địa điểm duy nhất (single-site).

Trong mô hình phức tạp, doanh nghiệp sẽ mua nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp (đây cũng chính là thành phẩm của đơn vị này), từ các nhà phân phối và từ các nhà máy “chị em” (có điểm tương đồng với nhà sản xuất). Ngoài việc tự sản xuất ra sản phẩm, doanh nghiệp còn đón nhận nhiều nguồn cung cấp bổ trợ cho quá trình sản xuất từ các nhà thầu phụ và đối tác sản xuất theo hợp đồng. Trong mô hình phức tạp này, hệ thống SCM phải xử lý việc mua sản phẩm trực tiếp hoặc mua qua trung gian, làm ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến các nhà máy “chị em” để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm hoàn thiện. Các công ty sản xuất phức tạp sẽ bán và vận chuyển sản phẩm trực tiếp đến khách hàng hoặc thông qua nhiều kênh bán hàng khác, chẳng hạn như các nhà bán lẻ, các nhà phân phối và các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEMs). Hoạt động này bao quát nhiều địa điểm (multiple-site) với sản phẩm, hàng hóa tại các trung tâm phân phối được bổ sung từ các nhà máy sản xuất. Đơn đặt hàng có thể được chuyển từ các địa điểm xác định, đòi hỏi công ty phải có tầm nhìn về danh mục sản phẩm/dịch vụ đang có trong toàn bộ hệ thống phân phối. Các sản phẩm có thể tiếp tục được phân bổ ra thị trường từ địa điểm nhà cung cấp và nhà thầu phụ. Sự phát triển trong hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng đã tạo ra các yêu cầu mới cho các quy trình áp dụng SCM. Chẳng hạn, một hệ thống SCM xử lý những sản phẩm được đặt tại các địa điểm của khách hàng và nguyên vật liệu của nhà cung cấp lại nằm tại công ty sản xuất.....tiếp sau

Nhà cung ứng (supply chain) lớn ở Việt Nam năm 2009

Top-10-erp-supply-chain
SCM - Supply Chain Management

Một chuỗi cung ứng linh hoạt và hiệu quả chính là con đường dẫn tới thành công cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ngay lập tức có thể có hành động phản hồi lại với những thay đổi nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, đồng thời vẫn có thể đảm bảo chi phí sản xuất ở mức thấp để tối đa hóa lợi nhuận .

Giải pháp quản lý chuỗi cung ứng có thể giúp các nhà quản lý đạt được mục tiêu này bằng cách cho phép họ dự đoán tốt hơn các xu hướng thị trường, thỏa thuận những đơn hàng tốt nhất có thể với các nhà cung ứng, tối ưu hóa mức tồn kho, và liên kết tốt hơn với các kênh phân phối.

Nhu cầu cho các giải pháp SCM là rất lớn, do đó thị trường giải pháp SCM luôn tăng trưởng với tốc độ cao. Theo những thống kê mới nhất từ hãng nghiên cứu AMR, doanh thu từ thị trường SCM năm 2006 đạt ngưỡng 6 tỷ đô la, và đang được kỳ vọng sẽ vượt con số 8 tỷ đô năm 2010.

Giải pháp Quản lý chuỗi cung ứng là gì?

Quản lý chuỗi cung ứng là sự kết hợp của khoa học và công nghệ phần mềm bao trùm tất cả các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng, bao gồm việc tìm kiếm, khai thác, lưu trữ các nguyên liệu đầu vào; lập kế hoạch và quản lý các qui trình sản xuất, chế biến; lưu kho và phân phối sản phẩm đầu ra. Với các giải pháp SCM, người quản lý có thể sắp xếp hợp lý và tự động hóa các bước lập kế hoạch, thực hiện và các hoạt động quan trọng khác.

Thêm vào đó, từ khi có sự xuất hiện của các đơn vị thứ ba xuyên suốt trong quá trình cung ứng, giải pháp SCM đã được thiết kế để nâng cao sự giao tiếp và liên kết giữa các nhà cung ứng, các đơn vị vận tải, các hãng tàu biển, các đơn vị trung gian và các đối tác khác bằng cách cho phép chia sẻ thông tin đa chiều một cách nhanh chóng.

Nghiên cứu của AMR cũng chỉ ra rằng một doanh nghiệp sản xuất điển hình của Mỹ hiện tại đang quản lý trung bình hơn 30 mối quan hệ đối tác. Giải pháp SCM cho phép doanh nghiệp có thể kiểm soát được các mối quan hệ phức tạp đó trong khi vẫn có thể phản ứng nhanh với những nhu cầu đang thay đổi từng giờ từng phút của khách hàng.

Những lợi ích chính cho doanh nghiệp của bạn

Với một giải pháp SCM, nhà quản lý kinh doanh có thể:

Quản lý hiệu quả hơn toàn mạng lưới của mình bằng việc bao quát được tất cả các nhà cung cấp, các nhà máy sản xuất, các kho lưu trữ và hệ thống các kênh phân phối.

Sắp xếp hợp lý và tập trung vào các chiến lược phân phối để có thể loại bỏ các sai sót trong công tác hậu cần cũng như sự thiếu liên kết có thể dẫn tới việc chậm chễ.

Tăng hiệu quả cộng tác liên kết trong toàn chuỗi cung ứng bằng việc chia sẻ các thông tin cần thiết như các bản báo cáo xu hướng nhu cầu thị trường, các dự báo, mức tồn kho, và các kế hoạch vận chuyển với các nhà cung cấp cũng như các đối tác khác.

Tối thiểu hóa chi phí tồn kho và tăng chu trình lưu chuyển tiền mặt bằng cách quản lý tốt hơn mức tồn kho.

Tăng mức độ kiểm soát công tác hậu cần để sửa chữa kịp thời các vấn đề phát sinh trong chuỗi cung ứng trước khi quá muộn.

Một nghiên cứu chính thống gần đây của AMR đã chứng minh: những doanh nghiệp có khả năng dự báo chính xác các nhu cầu thị trường (một số có thể dễ dàng có được với giải pháp SCM ), có thể giảm mức tồn kho không cần thiết 15%, tăng tỷ lệ các đơn hàng thành công, và rút ngắn qui trình thu tiền tới 35 %.

Doanh nghiệp của tôi có cần SCM?

Các chuỗi cung ứng ngày càng trở nên phức tạp, và kết quả là các doanh nghiệp sẽ gặp phải càng nhiều thách thức trong quá trình quản lý. Bất kỳ nhà sản xuất nào với một chuỗi cung ứng đa dạng, nhiều thành phần của mình đều nhanh chóng nhận ra giá trị và các lợi ích thu được từ một giải pháp SCM. SCM bôi trơn các hoạt động của chuỗi cung ứng thuận tiện hơn, nhịp nhàng hơn, hiệu quả hơn và chính xác hơn bằng cách kết nối tất cả các nhà cung cấp, các đối tác thành một mạng lưới gắn kết chặt chẽ.

Hiện nay, SCM không chỉ còn dành riêng cho các nhà máy, các đơn vị sản xuất nữa. Các nhà bán lẻ trên toàn cầu cũng bắt đầu nhận thấy giải pháp SCM có thể thúc đẩy chuỗi cung ứng của họ trở nên hiệu quả hơn, giúp họ kiểm soát chặt chẽ hệ thống phân phối cũng như mức tồn kho tại các cửa hàng, đại lý. Ngoài ra, rất nhiều các nhà cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực khác nhau cũng đang duy trì các kênh phân phối phức tạp bao gồm một lượng lớn các đối tác. Những nhà quản lý như họ hoàn toàn có thể đạt được một tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư hiệu quả bằng cách ứng dụng giải pháp SCM.

Các tính năng chính của SCM

Các giải pháp SCM cung cấp một bộ ứng dụng toàn diện bao gồm các phân hệ và các tính năng hỗ trợ từ đầu đến cuối các quy trình cung ứng, bao gồm:

Quản lý kho để tối ưu mức tồn kho (thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên vật liệu, các linh kiện, bộ phận thay thế cho các hệ thống máy móc) đồng thời tối thiểu hóa các chi phí tồn kho liên quan

Quản lý đơn hàng bao gồm tự động nhập các đơn hàng, lập kế hoạch cung ứng, điều chỉnh giá, sản phẩm để đẩy nhanh quy trình đặt hàng - giao hàng.

Quản lý mua hàng để hợp lý hóa quy trình tìm kiếm nhà cung cấp, tiến hành mua hàng và thanh toán.

Quản lý hậu cần để tăng mức độ hiệu quả của công tác quản lý kho hàng, phối hợp các kênh vận chuyển, từ đó tăng độ chính xác (về thời gian) của công tác giao hàng.

Lập kế hoạch chuỗi cung ứng để cải thiện các hoạt động liên quan bằng cách dự báo chính xác nhu cầu thị trường, hạn chế việc sản xuất dư thừa.

Quản lý thu hồi để đẩy nhanh quá trình kiểm tra đánh giá và xử lý các sản phẩm lỗi; đồng thời tự động hóa quy trình khiếu nại, đòi bồi hoàn từ các nhà cung ứng và các công ty bảo hiểm.

Quản lý hoa hồng để giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn quá trình đàm phán với các nhà cung cấp, tỷ lệ giảm giá, các chính sách hoa hồng cũng như các nghĩa vụ.

Một số giải pháp SCM trên thị trường hiện nay còn được tích hợp thêm khả năng quản lý hợp đồng, quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý tài sản.

Điều cần lưu ý khi lựa chọn một giải pháp quản lý chuỗi cung ứng?

Do việc quản lý chuỗi cung ứng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự chia sẻ thông tin nhanh chóng, thông suốt cả bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp cho nên tích hợp là tính năng quan trọng nhất trong bất cứ giải pháp SCM nào. Hãy lựa chọn một giải pháp với mô hình dữ liệu mở để dữ liệu có thể được chia sẻ tự động với các hệ thống back-end khác của doanh nghiệp (ERP); đồng thời kết nối với các hệ thống của các nhà cung ứng, các nhà sản xuất cũng như khách hàng thông qua nhiều kênh, nhiều địa điểm.

Bên cạnh SCM, còn có rất nhiều các công nghệ mới có khả năng sẽ tác động hiệu quả đến hoạt động quản lý chuỗi cung ứng trong tương lai gần. Ví dụ như các thiết bị nhận dạng tần số radio (radio frequency identification - RFID) có thể sẽ làm thay đổi hoàn toàn phương pháp quản lý chuỗi cung ứng trên toàn cầu. Hãy tham khảo các nhà cung cấp về kế hoạch tích hợp sử dụng các công nghệ mới này vào các giải pháp của họ khi công dụng của chúng ngày càng trở nên phổ biến hơn.

Danh sách top 10 Nhà cung cấp giải pháp SCM năm 2009

- Consona

- Epicor

- Infor

- Logility

- JDA

- Redprairie

- Microsoft

- Oracle

- SAP

- Manhattan Associates

Bạn có thể tìm hiểu chi tiết của bản đánh giá (bao gồm thông tin nhà cung cấp, tổng quan giải pháp, danh sách khách hàng, chi phí,..) trong file đính kèm dưới đây